Showing posts with label Không gian. Show all posts
Showing posts with label Không gian. Show all posts

30.1.12

Giải cứu vệ tinh quân sự trị giá 2 tỷ dollar ngoài không gian

Bài viết trên bee.net: http://bee.net.vn/channel/2981/201201/Giai-cuu-ve-tinh-quan-su-tri-gia-2-ty-dollar-1823479/

Vừa qua quân đội Mỹ vừa thực hiện một chiến dịch kéo dài 14 tháng nhằm giải cứu vệ tinh quân sự AEHF-1 trị giá 2 tỷ dollar bị hỏng động cơ đẩy khi đang ở trong không gian. Chiến dịch này kết thúc vào tháng 10 năm ngoái, nhưng đến tháng 1 năm nay các chi tiết mới được chính thức công bố. 

AEHF là hệ thống vệ tinh liên lạc quân sự mới nhất của Mỹ, gồm 6 vệ tinh, trong đó AEHF-1 là chiếc đầu tiên. Đây là một trong những dự án không gian lớn nhất của quân đội Mỹ trong vòng 10 năm qua. AEHF có băng thông gấp 10 lần hệ thống hiện tại. Nó đóng vai trò đảm bảo liên lạc thông suốt cho quân đội Mỹ cho đến cấp cao nhất. Nếu trong trường hợp tổng thống Mỹ phải ra lệnh cho quân đội trong một cuộc chiến tranh hạt nhân, mệnh lệnh này cũng sẽ được truyền qua hệ thống AEHF. 

Vệ tinh AEHF-1, nặng 6 tấn, có giá thành tương đương 1 tàu ngầm hạt nhân nặng 8,000 tấn, được phóng lên không gian ngày 14/8/2010. Ngay sau khi tách thành công khỏi tên lửa đẩy, động cơ chính của nó gặp vấn đề và AEHF-1 gần như đã bị rơi trở lại Trái đất. 


Hình 1 - AEHF-1 trong quá trình lắp ráp

Tìm hiểu về các loại động cơ của vệ tinh

Trước khi đi vào chi tiết chiến dịch giải cứu, ta cần hiểu về các loại động cơ đẩy được sử dụng trên vệ tinh AEHF-1. Cũng như nhiều vệ tinh hiện đại khác, AEHF-1 sử dụng 3 loại động cơ đẩy khác nhau: động cơ hydrazin nhiên liệu kép, động cơ hydrazine đơn, động cơ ion xenon.

Động cơ hydrazine nhiên liệu kép là động cơ chính của AEHF-1, có nhiệm vụ đẩy vệ tinh này từ quỹ đạo thấp, ngay sau khi nó tách khỏi tên lửa, lên quỹ đạo địa tĩnh, là nơi AEHF-1 sẽ duy trì vị trí của mình và thực thi nhiệm vụ. Động cơ này sử dụng nhiên liệu chính là hydrazine (N2H4), một loại nhiên liệu phổ biến trong ngành không gian, trộn lẫn với nitro tetroxide (NTO), một chất oxy hoá, để đốt cháy và tạo sức đẩy phản lực. Trên thực tế, hydrazine là 1 chất rất kém ổn định, có thể dễ dàng tự phân huỷ và tạo ra nhiệt lượng lớn mà không cần có oxy đốt cháy. Tuy nhiên trong loại động cơ này người ta vẫn trộn thêm chất oxy hoá để tăng thêm sức đẩy. Động cơ này trên AEHF-1 có sức đẩy khoảng 50 kg. 

Động cơ hydrazine nhiên liệu đơn cũng sử dụng hydrazine, nhưng không cần được cung cấp oxy. Người ta cho hydrazine tiếp xúc với iridium, đóng vai trò là chất xúc tác, để nó tự phân huỷ thành khí amoniac, hydro và nitro, cùng với 1 lượng nhiệt lớn. Nhiệt lượng này làm các khí trên giãn nở rất nhanh và tạo ra luồng đẩy phản lực. Đây là động cơ phụ, đóng vai trò để điều chỉnh vị trí của vệ tinh, ví dụ như khi nó bị lệch khỏi vị trí đúng, hoặc khi cần phải tránh các vật thể lạ trong không gian. Động cơ này cung cấp sức đẩy 2.5 kg. 

Loại động cơ cuối cùng là động cơ ion xenon, trong đó các nguyên tử khí xenon sẽ bị ion hoá. Các hạt ion này sau đó được tăng tốc bằng lực điện trường, tạo thành 1 luồng ion bắn về phía sau với tốc độ cao, và đẩy vệ tinh về phía trước. Ưu điểm của loại động cơ này là chúng chỉ dùng các nguyên tử khí làm nhiên liệu nên gần như không phải lo lắng về việc hết nhiên liệu, miễn là các tấm pin năng lượng mặt trời của vệ tinh vẫn tiếp tục cung cấp năng lượng điện cho động cơ. Điểm yếu của chúng là lực đẩy rất yếu, chỉ khoảng 0.03 kg, do đó chỉ được dùng để thực hiện những vận động nhỏ của vệ tinh khi nó đã ở cách xa Trái Đất.


Sự cố trong không gian

Sau khi tách khỏi tên lửa đẩy, AEHF-1 xoay quanh Trái Đất theo quỹ đạo tạm, theo kế hoạch nó sẽ được đưa lên quỹ đạo địa tĩnh, cách Trái đất hơn 35,000 km. Ngày 15/8/2010, trạm điều khiển bắt đầu quá trình nâng quỹ đạo cho AEHF-1 bằng cách ra lệnh cho động cơ chính, tức là động cơ hydrazine nhiên liệu kép, khai hoả. Tuy nhiên nó chỉ hoạt động trong vài giây rồi dừng. Hai ngày sau, động cơ được khởi động 1 lần nữa, nhưng vẫn thất bại. Toàn bộ Bộ tư lệnh không gian Mỹ được đặt trong tình trạng báo động. Một nhóm chuyên gia xem xét mọi dữ liệu được vệ tinh gửi về và xác định rằng lỗi xảy ra do một mảnh vải bị kẹt lại trong ống dẫn nhiên liệu trong quá trình lắp ráp động cơ chính. Nhóm chuyên gia cũng xác định rằng nếu cố gắng khởi động lại động cơ này thêm 1 lần nữa có thể làm nổ vệ tinh. 

Quỹ đạo tạm thời mà AEHF-1 đang di chuyển có hình elip dẹp, lệch tâm khỏi Trái Đất, do đó khoảng cách giữa nó với Trái đất biến động rất lớn, từ 230 km cho đến 50,000 km. Do thường xuyên di chuyển rất gần Trái đất, AEHF-1 chịu ảnh hưởng mạnh của trọng lực, vì vậy mỗi ngày trôi qua độ cao của nó giảm khoảng 5 km. Nghĩa là nếu không được cứu kịp thời AEHF-1 sẽ từ từ rơi trở lại Trái đất. Ngoài ra, ở độ cao này, AEHF-1 còn thường xuyên phải tránh mảnh rác thải vũ trụ. 

Các kỹ sư vì vậy phải tìm cách đưa được AEHF-1 lên quỹ đạo địa tĩnh chỉ bằng 2 loại động cơ phụ còn lại. Những người này được lệnh ở lại trong trung tâm điều hành cho đến khi phác thảo xong kế hoạch giải cứu chi tiết. Ngày 21/8/2010, đúng 1 tuần sau khi AEHF-1 được phóng lên không gian, kế hoạch giải cứu chính thức được thông qua, gồm nhiều giai đoạn khác nhau.


Hình 2 - Các quỹ đạo của AEHF-1 qua từng giai đoạn của chiến dịch giải cứu

Chiến dịch giải cứu 

Giai đoạn đầu tiên được khởi động từ ngày 29/8/2010, sử dụng 4 lần đốt của cácđộng cơ phụ hydrazine nhiên liệu đơn. Đến đầu tháng 9, quỹ đạo của AEHF-1 được nâng lên, điểm thấp nhất có độ cao 1,000 km. Giai đoạn 2 là sự tiếp nối của giai đoạn 1, các động cơ hydrazine đơn tiếp tục được khai hoả. Đến ngày 22/9/2010, giai đoạn 2 hoàn tất, lúc này khoảng cách từ  AEHF-1 đến Trái đất là từ 4,800 km đến 50,000 km. 

Trong quá trình AEHF-1 từ từ di chuyển lên các quỹ đạo cao hơn, nó phải phơi mình trước ánh sáng mặt trời trong thời gian dài. Vì vậy các kỹ sư phải viết lại phần mềm điều khiển để thường xuyên xoay AEHF-1 sao cho các phía của vệ tinh luân phiên có thời gian nguội lại. 

Giai đoạn 3 bắt đầu từ tháng 10/2010 và kéo dài đến tháng 6/2011, đây là giai đoạn dài nhất và nhiều thử thách nhất. Lúc này AEHF-1 phụ thuộc hoàn toàn vào các động cơ ion xenon. Như đã giới thiệu, các động cơ này hầu như không tiêu thụ nhiên liệu, mà chỉ cần điện năng từ các tấm pin mặt trời của vệ tinh. Một khó khăn khác nảy sinh trong giai đoạn này. Đó là việc AEHF-1 lúc này đang đi vào khu vực vành đai Van Allen. Đây là khu vực có các hạt điện tích bị từ trường của Trái đất giữ lại, do đó có mức độ bức xạ rất cao. Bức xạ này có thể làm hỏng các tấm pin mặt trời. Do đó trạm điều khiển phải tìm cách đưa vệ tinh ra khỏi vành đai Van Allen càng nhanh càng tốt. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử khám phá không gian một động cơ ion được sử dụng nhiều trong 1 thời gian dài như vậy. Giai đoạn này kết thúc vào ngày 2/6/2011. Quỹ đạo của AEHF-1 lúc này vẫn có hình elíp, với điểm xa Trái đất nhất vẫn ở khoảng 50,000 km, còn điểm gần nhất đã tăng lên 27,000 km.

Trong giai đoạn cuối cùng của chiến dịch, mục tiêu là chuyển quỹ đạo của AEHF-1 thành quỹ đạo tròn, cách Trái đất 35,000 km, cũng là quỹ đạo địa tĩnh mà AEHF-1 sẽ duy trì trong thời gian hoạt động của mình. Giai đoạn này vẫn tiếp tục sử dụng các động cơ ion xenon. AEHF-1 đạt được quỹ đạo mong muốn vào 24/10/2011. 

Trong toàn bộ chiến dịch, người ta đã sử dụng gần 500 lần khai hoả động cơ khác nhau. Mặc dù quá trình này kéo dài đến 1 năm, lượng nhiên liệu được sử dụng gần như bằng với mức tiêu thụ trong điều kiện bình thường, do đó thời gian sử dụng của AEHF-1 sẽ không bị ảnh hưởng. Dự kiến nó sẽ có tuổi thọ 14 năm. Hiện nay AEHF-1 đang trong quá trình chạy thử các hệ thống, dự kiến đến tháng 3 tới nó sẽ chính thức được đưa vào sử dụng. AEHF-2 và 3 dự kiến cũng sẽ được phóng trong vòng năm nay. 

  











7.12.09

GPS vẫn chưa có đối thủ

Một năm trước, Nga tin rằng GLONASS, hệ thống vệ tinh định vị tương tự GPS, đã sẵn sàng. 3 vệ tinh mới đã được phóng lên, nâng tổng số vệ tinh trong hệ thống lên 20. Nếu theo đúng kế hoạch thì đến 2010, GLONASS sẽ chính thức hoạt động. Tuy nhiên hiện nay đang có 1 số vấn đề.

Hiện nay chỉ còn 19 vệ tinh GLONASS trên quỹ đạo, và chỉ 15 trong số đó đang hoạt động. Trong khi đó, chỉ để hệ thống phủ sóng được trong phạm vi nước Nga đã cần 18 vệ tinh, còn trên phạm vi toàn cầu là 24. Ngoài ra, một lô 6 vệ tinh chuẩn bị được phóng lên cũng bị phát hiện có những lỗi kỹ thuật nghiêm trọng.

Thật ra thì GLONASS từng đạt được mức 24 vệ tinh vào 1995. Tuy nhiên việc thiếu kinh phí trầm trọng của quân đội Nga sau 1991 đã khiến cho GLONASS không còn được cấp thêm kinh phí, trong khi đó cứ mỗi 5-7 năm thì cần phóng vệ tinh mới thay thế. Do đó đến cuối 2002 thì chỉ còn 7 vệ tinh GLONASS còn hoạt động.

Nhưng dù sao thì GLONASS vẫn còn hứ hẹn hơn nhiều so với Galileo, một dự án tương tự của châu Âu. Cho tới nay mới chỉ có 2 vệ tinh thuộc hệ thống Galileo được đưa lên quỹ đạo, nếu theo kế hoạch thì đáng lẽ con số này phải là 4, trong khi kinh phí hiện nay đã gấp 2 lần dự toán. Theo như dự kiến thì trong vòng 10 năm tới, hệ thống sẽ hoàn chỉnh với 30 vệ tinh, và sẽ có độ tin cậy cao hơn tại các vùng vĩ độ cao và trong các đô thị có mật độ xây dựng cao.

Ngoài ra còn có hệ thống Beidu của TQ, hiện vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm, với chỉ khoảng 4 vệ tinh đang hoạt động.


Lí do để các quốc gia tìm cách phát triển một hệ thống có thể cạnh tranh với GPS không chỉ là để độc lập trong các ứng dụng quân sự và còn vì lợi ích kinh tế. Theo ước tính giá trị kinh tế GPS đem lại mỗi năm lên tới 30 tỷ dollar. Đó là lí do mà GPS được mở cho mọi người có thể sử dụng với độ chính xác gần bằng với tín hiệu cho quân đội Mỹ. Việc các hệ thống như GLONASS, Galileo liên tục gặp chậm trễ trong việc triển khai càng khiến các nhà sản xuất thiết bị nản lòng và càng làm cho viễn cảnh những hệ thống này trong tương lai có thể cạnh tranh với GPS càng khó khăn. Đa số thiết bị có tích hợp bộ thu tín hiệu GLONASS hiện nay cũng đồng thời có thể nhận luôn tín hiệu của GPS. Đây có lẽ cũng là xu hướng trong tương lai, nếu như có nhiều hệ thống định vị vệ tinh cùng hoạt động vì chi phí sản xuất một bộ thu kép không đắt hơn bộ thu đơn nhiều trong khi việc sử dụng đồng thời 2 tín hiệu độc lập cho phép tăng độ chính xác và tin cậy.

2.6.09

GPS - Hải đăng trong không gian


Không lâu sau khi có thông tin cho rằng hệ thống định vị toàn cầu GPS sẽ phải tạm ngừng hoạt động trong tương lai gần vì không được bổ sung vệ tinh mới thay thế thì các quan chức lầu năm góc đã chính thức lên tiếng bác bỏ giả thuyết trên. Theo đó, số vệ tinh tối thiểu cần thiết để duy trì hoạt động của GPS 24/24 trên phạm vi toàn cầu là 24. Con số hiện nay là 31. Chương trình chế tạo vệ tinh GPS được thực hiện tốt, và các vệ tinh luôn có tuổi thọ cao hơn thiết kế, chưa kể còn một số vệ tinh dự phòng. Và theo lời của một quan chức thì xác suất xảy ra việc ngừng hoạt động còn nhỏ hơn xác suất trúng vé độc đắc.

GPS hiện là hệ thống vệ tinh định vị duy nhất hoạt động trên phạm vi toàn cầu, và đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong các hoạt động dân sự cũng như quân sự. Không chỉ giúp định hướng các phương tiện từ máy bay, tàu chiến đến thiết giáp và cả từng cá nhân người lính, GPS còn mở đường một thế hệ những vũ khí chính xác từ bom đến pháo binh, tạo ra một cuộc cách mạng trong tác chiến.

Và tất nhiên và cùng với đó, người ta cũng tìm cách phát triển công nghệ gây nhiễu GPS. Tuy vậy, việc gây nhiễu cũng là con dao 2 lưỡi, vì bản thân thiết bị gây nhiễu cũng là một nguồn phát tín hiệu chủ động, và nếu đối phương có khả năng tác chiến điện tử tốt, họ có thể dò ngược ra những nguồn này. Như trong cuộc chiến vùng vịnh lần 2, quân đội Iraq sử dụng những thiết bị gây nhiễu cơ động, nhưng cuối cùng vẫn bị phát hiện và tiêu diệt. Do đó, sử dụng 100 nguồn gây nhiễu nhỏ rải đều trên một khu vực lớn sẽ hiệu quả hơn một thiết bị công suất lớn. Khi bị gây nhiễu, các vũ khí thông minh sẽ chuyển từ GPS sang chế độ dẫn đường bằng quán tính, có độ chính xác thấp hơn.

Cao hơn gây nhiễu là việc giả tín hiệu, khiến cho bộ dẫn đường tin rằng mình đang nhận tín hiệu từ vệ tinh nhưng thật ra đó là tín hiệu giả của đối phương và khiến cho vũ khí rơi chệch mục tiêu. Tuy nhiên, việc tạo tín hiệu giả này phải mất nhiều thời gian, với độ lệch được tích tụ từ từ. Nếu bộ dẫn đường nhận thấy có độ sai lệch quá lớn giữa những lần xử lý tín hiệu, nó sẽ nhận biết đây là tín hiệu giả. Nếu có đủ thời gian, đối phương với khả năng tác chiến điện tử mạnh có thể điều khiển vũ khí tấn công ngược lại. Tuy vậy, đây là một công việc rất phức tạp và đòi hỏi một trình độ công nghệ rất cao.

Thực tế thì GPS và chống-GPS cũng giống như nhiều cuộc đua thanh kiếm-tấm khiên cổ điển trong quân sự. Giống như radar, ngay sau khi nó ra đời thì ngay lập tức những công nghệ chống radar cũng được phát minh, tuy vậy radar cũng tiếp tục tiến hóa và vai trò của nó vẫn ngày một quan trọng. Tương tự, GPS hôm nay hiển nhiên là có khả năng chống nhiễu tốt hơn vài năm trước nhờ những tiến bộ về các thiết bị điện tử cũng như phần mềm. Trong nhiều trường hợp, vấn đề tín hiệu vệ tinh yếu còn gây đau đầu hơn cả việc bị đối phương gây nhiễu.

RSN (Công nghệ định vị mặt đất tăng cường) mới được phát triển nhằm đối phó với cả việc gây nhiễu và tín hiệu yếu. Cơ bản thì RSN kết hợp các thuật toán, ứng dụng xác suất thống kê và cải tiếng angten để nhận cả tín hiệu GPS và từ nguồn khác, kết hợp lại để ước tính ra thông số bị thiếu khi mất tín hiệu, nếu phần mềm cho rằng thông số này chính xác hơn là chuyển sang back-up (tức là dùng quán tính) thì nó sẽ dùng RSN. Nguồn khác có thể là từ máy bay hoặc thiết bị phát sóng trên mặt đất.

Gần tương tự là công nghệ vệ tinh giả. Nói chung, công nghệ vệ tinh giả nhằm giả lập những ứng dụng của vệ tinh nhờ những thiết bị không đặt trong không gian. Trong trường hợp cụ thể để hỗ trợ GPS, một thiết bị vệ tinh giả bao gồm một bộ chống nhiễu GPS, tích hợp với bộ thiết bị đo quán tính, máy phát tín hiệu GPS, bộ nguồn, datalink. Các thiết bị này có thể đặt trên máy bay, UAV, trên mặt đất…Công nghệ này cung cấp khả năng chống nhiễu rất tốt trong một khu vực nhất định.

Một hướng đi nữa trong việc chống nhiễu là thiết kế lại angten, cho phép nó nhận biết hướng của tín hiệu nhiễu và không nhận tín hiệu từ hướng đó.

GPS có phiên bản quân sự, được mã hóa và độ chính xác cao và bản dùng cho dân sự không có mã hóa. Tuy nhiên, dưới thời TT Clinton, tín hiệu dân sự được cải tiến giảm sai số cho phép tín hiện dùng cho dân sự có độ chính xác gần bằng của quân sự. Hiện có nhiều nước đã phát triển những vũ khí chính xác sử dụng tín hiệu GPS dân sự, bao gồm cả Nga, TQ, Ấn độ…GPS dân sự hiển nhiên là dễ bị gây nhiễu hơn nhiều so với quân sự. Mặc dù ra đời sau, nhưng công nghệ vũ khí chính xác sử dụng vệ tinh lại rẻ tiền và ít phức tạp hơn công nghệ dẫn bằng laser ra đời trước đó. Vấn đề quan trọng là bạn có sở hữu một hệ thống vệ tinh định vị riêng hay không.

19.5.09

Hack vệ tinh quân sự


Mỹ và Brazil vừa phối hợp bắt giữ một số người đã sử dụng trái phép các vệ tinh liên lạc thuộc hệ thống FLTSATCOM. Hệ thống này gồm 8 vệ tinh được phóng lên quỹ đạo từ 1979-1989. Đến những năm 90, nó được thay thế bởi UFO, một hệ thống mới hơn. Cả 2 đều đóng vai trò là vệ tinh liên lạc cho hải quân Mỹ. Mặc dù không còn được sử dụng, và tuổi thọ theo thiết kế là 7 năm, vẫn còn 2 vệ tinh thuộc FLTSATCOM còn hoạt động được, sau hơn 20 năm kể từ ngày được phóng lên.

Không lâu sau khi hải quân Mỹ ngưng dùng FLTSATCOM, các tay chơi radio nghiệp dư ở Brazil khám phá ra rằng chỉ cần một chảo vệ tinh và biết đúng tần số, họ có thể sử dụng 2 vệ tinh còn lại của hệ thống. Khi nhận được tín hiệu từ mặt đất đúng tần số, chúng sẽ tự động chuyển tiếp xuống 1 khu vực rộng lớn bên dưới. Nhờ đó, những người chơi radio có thể liên lạc với nhau qua một khoảng cách rất xa.

Một người Brazil nhập cư vào Mỹ và vẫn sử dụng cách này đã bị phát hiện và phạt 20,000 dollar. Sau đó phía Mỹ yêu cầu nhà chức trách Brazil can thiệp, vì đó vẫn còn là tài sản của chính phủ Mỹ, hơn nữa, chúng vẫn có thể hữu dụng trong trường hợp khẩn cấp.

8.12.08

Trung Quốc và ISS


Vào ngày 27/9, tàu không gian Thần Châu tiến gần trạm không gia quốc tế ISS ở khoảng cách 45km. 2 trong số 3 phi hành gia đã thực hiện chuyến đi bộ trong không gian đầu tiên của TQ. Sau đó, một vệ tinh nhỏ. BX-1, nặng khoảng 40kg được thả ra từ Thầu Châu. Mặc dù được coi là một thí nghiệm khoa học, nhưng việc Thầu Châu đến quá gần ISS và thả ra một vật thể nhỏ, có thể tự cơ động, nhờ vào những động cơ phản lực nhỏ, xác nhận rằng đây là một cuộc thử nghiệm và khả năng chống vệ tinh của TQ. BX-1 có thể dễ dàng được sử dụng để tiêu diệt bất cứ vật nào nào trong không gian như ISS hay các vệ tinh quân sự.

Tất nhiên TQ phủ nhận điều này. Tuy vậy họ vẫn bị chỉ trích vì đến quá gần ISS, cũng như việc rốt cuộc thì họ cũng mất điều khiển BX-1.

Thần Châu, 7.8 tấn, gẩn như là một bản sao của tàu Soyuz của Nga, nhưng lớn hơn và hiện đại hơn. Cuộc đi bộ trong không gian đầu tiên được người Nga thực hiện tháng 3/1965. Người Mỹ sau đó 3 tháng. 4 năm sau, con người lần đầu thực hiện chuyến đi bộ trên bề mặt một thiên thể khác khi 2 phi hành gia tàu Apollo 11 đổ bộ xuống mặt trăng.

Màu sắc cho ảnh vệ tinh


Cục tình báo không gian Mỹ (NGA) hiện đang khá hài lòng với khoản góp vốn 237 triệu dollar của mình trong dự án nửa tỷ dollar chế tạo vệ tinh GeoEye nặng 2 tấn. Đây là một vệ tinh viễn thám thương mại, nhưng khách hàng lớn nhất là NGA, mỗi tháng mua 10 triệu dollar hình ảnh. Khách hàng lớn nữa chính là Google, sử dụng hình ảnh từ GeoEye cho Google Maps.

Điểm nổi trội của GeoEye là nó chụp được hình màu ở độ phân giải cao, 41cm. Mặc dù giới quân sự có những vệ tinh có độ phân giải gấp 10 lần (độ phân giải chính xác của vệ tinh KeyHole là bí mật) thì 41cm là đủ trong đa số trường hợp. Trong thực tế, Google Maps rất thông dụng với binh sĩ khi lên kế hoạch hoạt động vì nó có sẵn thay vì phải trải qua một quy trình dài để lấy được hình ảnh bảo mật từ giới tình báo.

Màu sắc là một lợi thế. Trong quá khứ, màu sắc bị hy sinh cho độ phân giải. Ngày nay, màu sắc lại được ưu tiên hơn. Giới quân sự cũng tin rằng những hình ảnh độ phân giải cao của Google Maps mang lại lợi ích cho mình ở khía cạnh khác. Bởi vì hàng ngàn người yêu thích quân sự trên thế giới thường xuyên mày mò trên Maps để truy tìm các địa điểm quân sự tại các nước như TQ, Bắc Hàn, Iran và tìm thấy nhiều điều thú vị. NGA và CIA không bình luận gì nhưng có vẻ như nhiều thứ mà các nhà nghiệp dư này tìm thấy đã bị bỏ sót trước kia.

NGA đầu tư một nửa GeoEye để có toàn quyền trong trường hợp xảy ra chiến tranh. Một thỏa thuận tương tự được ký với GeoEye 2, sẽ được phóng sau 2 năm nữa.