Showing posts with label Hệ thống không lực. Show all posts
Showing posts with label Hệ thống không lực. Show all posts

1.12.09

"Đó là 1 tội ác"

Tư lệnh không quân Nga, tướng Alexander Zelin vừa từ chối sử dụng bất kì loại UAV nào được các nhà sản xuất trong nước chào hàng vì không hài lòng với các thông số về độ cao, tốc độ, cũng như chất lượng của các thiết bị trinh sát gắn trên đó. Ông giải thích một cách thẳng thừng: "Đưa những thiết bị như vậy vào sử dụng đơn giản là 1 tội ác". Các chỉ huy Nga đã quá hiểu rõ những hạn chế của công nghệ UAV nội địa. Họ có quá đủ kinh nghiệm từ việc sử dụng chúng ở Chesnia và các khu vực lân cận. UAV của Nga có thời gian hoạt động ngắn, chỉ vài giờ, và độ tin cậy thấp. Chúng cũng khó điều khiển và do đó không được binh lính thích sử dụng. Do đó, vài năm trước, các tướng Nga đã đề nghị 1 điều gần như không tưởng, mua UAV của phương tây.

Tất nhiên không thể mua của Mỹ. Ngay cả khi bỏ qua yếu tố chính trị hay sĩ diện thì khi đó các nhà sản xuất UAV của Mỹ cũng đang cháy hàng, sản xuất không kịp để cung cấp cho các lực lượng Mỹ ở Iraq và Afghanistan. Do đó, Nga quay qua Israel. Đầu năm nay, họ ký một hợp đồng trị giá 50 triệu dollar với Israel, gồm 3 loại UAV khác nhau, bao gồm từ loại UAV nhỏ, vừa và lớn.

Giá trị hợp đồng không lớn, nhưng chủng loại lại đa dạng. Không cần có trí thông minh quá siêu phàm cũng hiểu rằng mục đích chính của Nga trong hợp đồng này là học hỏi kinh nghiệm, công nghệ của Israel. Đổi lại, Nga tiếp tục trì hoãn việc bán các giàn tên lửa phòng không S-300 cho Iran, kẻ thù lớn nhất của Israel hiện nay. Các nhà sản xuất Nga tuyên bố một khi tiếp cận được với UAV của Israel họ có thể copy được trong vòng 1 năm. Nhưng các tướng lĩnh Nga thì chỉ đơn giản là "trăm nghe không bằng một thấy".

7.6.09

Máy bay tiếp nhiên liệu lớn nhất?


Trong tác chiến, các hệ thống hỗ trợ, mặc dù không trực tiếp đóng góp hỏa lực, đóng vai trò không hề kém quan trọng hơn các hệ thống trực tiếp tham chiến. Đối với không quân, những hệ thống như cảnh báo sớm và kiểm soát trên không (AWACS), tiếp dầu, tác chiến điện tử, tuần tra hàng hải…là một phần không thể thiếu của các lực lượng không quân hiện đại. Không quân Ấn độ (IAF) cũng không phải ngoại lệ. Một phần trong kế hoạch hiện đại hóa lực lượng vũ trang của mình, Ấn độ trong thời gian qua đã có nhiều hợp đồng để nâng cấp các hệ thống hỗ trợ của không quân.

Họ đặt hàng AWACS Phalcon, hệ thống này sử dụng máy bay IL-76 của Nga và gắn radar Phalcon của Israel, MC-130, một phiên bản đặc biệt của mẫu máy bay C-130, chuyên dùng cho các chiến dịch đặc biệt. Poseidon P-8, máy bay tuần tra hàng hải tầm xa. Đồng thời trong tương lai, họ sẽ đặt mua thêm AWACS và máy bay tuần tra hàng hải loại trung.

Với máy bay tiếp dầu, hiện Ấn độ đang sử dụng 6 chiếc IL-78MK của Nga, đây là một phiên bản của máy bay vận tải IL-76. Ấn độ muốn mua thêm 6 chiếc nữa, nhưng thay vì tiếp tục mua IL-78, họ quyết định quay sang A330 MRTT. MRTT là viết tắt của máy bay bay vận tải-tiếp dần đa năng. Giá mỗi chiếc khoảng 160 triệu dollar. Dựa trên mẫu máy bay 2 động cơ A 330-300, loại máy bay mất tích ở Brazil gần đây, MRTT nặng 233 tấn, có thể mang theo 111 tấn nhiên liệu, cộng với 43 tấn hàng hóa. Nếu dùng để chở người, sức tải là 238 người. Sự linh hoạt là một trong những điểm mạnh nhất của MRTT.

IL-78 có 4 động cơ, nặng 220 tấn, chỉ có thể chở theo nhiên liệu (138 tấn). Ngoài việc kém linh hoạt hơn MRTT, tính tin cậy và hỗ trợ bảo trì kém là những nguyên nhân khiến Ấn độ chọn Airbus.

Ilyushin không phải là kẻ duy nhất bị Airbus hớt tay trên. Boeing cũng suýt bị đấu thủ từ châu Âu thắng ngay trên sân nhà. Trong một hợp đồng khổng lồ để thay thế cho đội máy bay tiếp dầu của mình, không quân Mỹ đã chọn KC-30 của Airbus (cũng dựa trên mẫu A 330-300) thay vì KC-767 của Boeing. Tuy nhiên Boeing sau đó đã kiện lại và hiện quá trình đấu thầu sẽ bắt đầu lại từ đầu. KC-30 lớn hơn so với KC-767, chở nhiều hơn 20% số nhiên liệu. Điểm mạnh của KC-767, dựa trên mẫu Boeing 767, là nó có kích thước gần giống như KC-135, là mẫu máy bay tiếp dầu chính của không quân Mỹ hiện nay, do đó tận dụng được các cơ sở vật chất cũ mà không cần sửa đổi nhiều.

KC-135 cũng do Boeing sản xuất, với hơn 2000 chiếc xuất xưởng cho tới nay. Nó có thể mang theo 90 tấn nhiên liệu, 68 tấn trong số đó là để tiếp cho các máy bay khác. Ngoài ra, không quân Mỹ còn sử dụng một số chiếc KC-10, dựa trên mẫu DC-10. Lớn hơn so với KC-135, với sức tải 160 tấn, chỉ có khoảng 70 chiếc KC-10 trong biên chế, so với hơn 500 chiếc KC-135.

Ngoài ra, còn có mẫu Tristar của không quân Anh, với sức tải 136 tấn nhiên liệu. Tuy vậy, không phải KC-10, KC-30, IL-78 hay Tristar là mẫu máy bay tiếp dầu lớn nhất. Loại lớn nhất, đáng ngạc nhiên, lại thuộc về không quân Iran. Đó là KC-747, tất nhiên là dựa trên loại máy bay chở khách nổi tiếng Boeing 747.

Trước cách mạng hồi giáo 1979, Iran là đồng minh của Mỹ, và đã mua khoảng 4 chiếc KC-747. Trong khi đó, không quân Mỹ lại chọn KC-10 thay vì KC-747. Do đó, Iran là nước duy nhất có KC-747. Điều thú vị là khi đó, 2 mẫu DC-10, của McDonnell Douglas, và Boeing 747 cùng cạnh tranh nhau trong phân khúc máy bay thân rộng. Phần thắng nghiêng về Boeing, và sau này đã mua lại chính đối thủ của mình. KC-747 có thể chở theo 170 tấn nhiên liệu và 54 tấn hàng hóa. Tuy vậy, do cấm vận, Iran hầu như không thể duy trì hoạt động của phi đội này. Hiện nay người ta cho rằng Iran chỉ còn 1 chiếc còn có thể bay được.
MRTT (KC30)
IL-78

KC-767

KC-135


KC-10


Tristar



KC-747







31.5.09

Anh bạn nhỏ biết bay


ALE-50 là một thiết bị trông giống một quả bom, và cũng được gắn dưới điểm treo vũ khí của máy bay. Nhưng khi được kích hoạt, nó sẽ thả ra một thiết bị mồi có thể lướt đi và được nối với máy bay bằng cáp, và có thể được điều khiển bay theo sau máy bay. Bên trong là những thiết bị điện tử để đánh lừa các tên lửa đối không điều khiển bằng radar, làm cho nó 'trông giống' như chiếc máy bay và thu hút tên lửa nhắm vào nó, thay vì máy bay.

ALE-50 được thiết kế để dùng trên F-16, F-18 và B-1. Hiệ quả của nó đã được chứng minh trong thực tế chiến đấu, đối với cả tên lửa đất đối không và không đối không. Một phi công Mỹ sau khi được ALE-50 cứu đã về nhà, viết thư cho Raytheon, hãng chế tạo, và gọi nó là 'anh bạn nhỏ của tôi".

25.5.09

Mi-38 và chính trị


Các nước phương tây vẫn luôn gây áp lực với Nga nhằm ngăn cản các hợp đồng xuất khẩu vũ khí sang Iran, nhất là hệ thống S-300, cũng như các vấn đề liên quan đến các quốc gia làng giếng của Nga, như Gruzia. Đa số những áp lực này diễn ra một cách âm thầm và ít người biết đến. Một ví dụ mới nhất là việc hãng Pratt & Whitney của Mỹ, chi nhánh Canada, trì hoãn việc cung cấp bản quyền chế tạo động cơ PW127 cho phía Nga. Đây là lần đầu tiên kể từ sau thế chiến thứ 2 mà Nga mua công nghệ động cơ của phương tây. Trước đó, ngay sau khi thế chiến kết thúc, Anh có cung cấp bản quyền cho LX chế tạo động cơ phản lực Rolls Royce. Tuy vậy, chiến tranh lạnh sau đó đã biến những hợp đồng tương tự trở nên không tưởng.

Nga muốn có PW127 cho loại trực thăng Mi-38 mới của mình. Nếu không, họ sẽ phải dùng loại nội địa TV-7-117, kém hiệu quả hơn, và sẽ trì hoãn việc ra mắt thêm 1 năm nữa, tới 2012.

Hiện Nga từng gặp khó khăn trong việc tìm khách hàng cho Mi-38. Điều trớ trêu là vì họ quá thành công trong việc bán những mẫu thuộc dòng Mi-8/171/17 cũ hơn. Mi-38 là hậu duệ của những mẫu này. Một điểm mạnh của trực thăng Nga là, với cùng 1 sức tải, thì trực thăng Nga có không gian rộng hơn, cho phép chở nhiều người hơn. (sức tải tối đa của trực thăng không phải ở số người bên trong mà ở lượng hàng hóa có thể treo dưới bụng máy bay). May mắn là Mi-38 có nhiều đơn hàng từ các dự án dầu khí mới ở miền đông nước Nga.

Mi-171 được phát triển dựa trên Mi-17, Mi-17 là tên gọi phiên bản xuất khẩu của Mi-8. Mi-171 nặng 12 tấn, sức tải tối đa 4 tấn, tầm hoạt động 590km.

Mi-38 nặng 15 tấn và sức tải 6 tấn, có thể hoạt động liên tục 6 giờ.

23.5.09

Nguyên nhân tai nạn của Su-35

Các kỹ sư Nga xác định rằng nguyên nhân khiến họ mất một trong 2 mẫu thử nghiệm hiện tại của Su-35 là một lỗi kỹ thuật của 1 trong 2 động cơ của máy bay. Trước đó có phỏng đoán cho rằng nguyên nhân là do bộ càng đáp hay đường dẫn nguyên liệu. Loại động cơ sử dụng trên Su-35 là AL-41.

Hiện Nga sử dụng 2 loại động cơ chính cho các chiến đấu cơ của mình là AL-31 cho dòng Su-27/30 và RD33/93 cho Mig-29. AL-41 là một bản nâng cấp từ AL-31, có sức đẩy khoảng 15,000kg. Trước kia động cơ phản lực của Nga/LX thường có độ tin cậy và tuổi thọ thấp hơn của phương tây, song những năm gần đây họ đã cố gắng thu hẹp khoảng cách lại.

Nhân đây ta cũng có thể bàn qua về sự khác biệt trong cách đặt tên máy bay giữa Nga và Mỹ. Nga và LX trước đây thường đặt tên khác nhau cho những thiết kế được phát triển lên dựa vào một mẫu nguyên thủy. Su-30, Su-35 là những phiên bản nâng cao của Su-27 với nhiều cải tiến khác nhau. Ngược lại, Mỹ chỉ đặt tên mới cho máy bay của mình nếu đó là một thiết kế hoàn toàn mới. Do đó, nếu Sukhoi là 1 hãng Mỹ thì ta sẽ có Su-27, Su-27E hay Su-27H…thay vì Su-27/30/35. Ngược lại, nếu Boeing là hãng Nga thì ta sẽ có F-18, F-24 thay vì F-18, F-18E/F. Một điểm lưu ý nhỏ là 2 mẫu máy bay này (F-18 và F-18E/F) mặc dù có bề ngoài rất giống nhau, nhưng thật sự là 2 thiết kế rất khác nhau, chúng chỉ có 25% điểm tương đồng.

Sở dĩ có sự khác biệt này do nhiều lí do. Quan trọng nhất có lẽ là lí do sau: đối với ngành CNQP Nga, ưu tiên cao là dành cho xuất khẩu. Đặt những tên mới cho thiết kế của mình sẽ giúp nó dễ bán hơn, vì rõ ràng Su-30 nghe 'hiện đại' hơn so với Su-27E. Ngược lại, ngành CNQP Mỹ gồm nhiều hãng cạnh tranh với nhau, và nội bộ các quân chủng cũng cạnh tranh rất dữ dội về việc phân bổ ngân sách từ QH. Gọi tên F-18E/F sẽ tạo ấn tượng đó chỉ là một đợt nâng cấp, còn F-24 sẽ khiến người ta cho rằng đây là một dự án hoàn toàn mới và rất tốn kém, do đó khó xin ngân sách từ QH hơn.

14.5.09

Quái vật ở Kandahar


Một bức ảnh vừa được đăng trên một tạp chí hàng không của Pháp, nó được gửi đến từ 2007 nhưng mãi đến bây giờ mới được công bố. Vật thể trong bức ảnh được cho là một mẫu UAV bí mật đang hoạt động ở sân bay Kandahar, Afghanistan. Nếu đúng vậy thì đây là mẫu UAV đầu tiên sử dụng thiết kế 'cánh bay', nghĩa là toàn bộ chiếc máy bay là 1 cái cánh lớn. Những lời đồn đại về một máy bay không người lái bí mật ở Kandahar đã xuất hiện từ khá lâu, thậm chí người ta đã phác thảo lại hình dạng của nó theo lời các nhân chứng, và nó được gọi là quái vật ở Kandahar. Đối chiếu với ảnh thực thì độ tương đồng là rất lớn, và nó gần như đã khẳng định sự tồn tại của chiếc UAV này. Thiết kế 'cánh bay' có diện tích cung cấp lực nâng lớn, do đó tăng thời gian hoạt động, đồng thời nó cũng là một thiết kế có tính 'tàng hình'.



13.5.09

Bộ đôi từ Thụy Điển



Không quân Thái lan hiện tại gồm các máy bay F-5 của những năm 60-70, máy bay phản lực lên thẳng Harrier II và F-16A/B. Trong khi đó, nhiều nước trong khu vực đã được trang bị những máy bay của dòng Su27/30 hiện đại hơn nhiều. Do đó, họ vừa bỏ ra 1.1 tỷ dollar để mua 12 chiếc chiến đấu cơ đa năng Gripen và 2 máy bay cảnh báo sớm (AWACS) Erieye. Số Gripen sẽ thay thế cho loại F-5 B/E đã quá cũ, trừ một số F-5 đã được Israel nâng cấp lên F-5T, trang bị hệ thống hiển thị thông tin trực tiếp, tên lửa không đối không tầm gần Python.

Gripen là một mẫu chiến đấu cơ đa năng hạng nhẹ, có thể hạ và cất cánh trên đường bộ bình thường, trang bị những công nghệ mới nhất, giá rẻ và chi phí vận hành thấp.

Erieye AWACS sử dụng một radar quét điện tử chủ động với 200 module. Góc quét ở mỗi bên là 160 độ, tầm hoạt động tối đa của radar là 450km, tầm hiệu quả với máy bay hay tàu chiến là 300-330km. Nó có thể tập trung quét một vài khu vực trong khi theo dõi các khu vực còn lại, hoặc quét 1 khu vực bằng nhiều chế độ cùng lúc.

30.4.09

UAV lên thẳng


Mặc dù vai trò của UAV ngày càng được coi trọng thì đa số chúng vẫn là UAV cánh cố định, các loại trực thăng không người lái ít được coi trọng. Lí do chính có lẽ là vì độ tin cậy thấp. Ngay cả với máy bay có người lái, trực thăng luôn có tỷ lệ tai nạn cao hơn máy bay cánh bằng. Trong khi đó, UAV nói chung lại có tỷ lệ hỏng hóc cao hơn máy bay có người lái. Ngoài ra, tốc độ chậm khiến cho UAV lên thẳng dễ bị nhắm bắn hơn. Tuy vậy, vẫn có một số mẫu UAV lên thẳng đáng chú ý.

Fire Scout có thể bay liên tục trong 8h, trang bị camera ngày và đêm, GPS, bộ chỉ thị mục tiêu bằng laser, tốc độ tối đa 230km/h, tầm hoạt động tối đa 200km. Nó có thể cất, hạ cánh tự động. Nó có phiên bản chuyên dùng cho hải quân.

A160T Hummingbird có thể hoạt động liên tục 40h, tốc độ tối đa 255km/h, tải trọng 150kg, độ cao tối đa 10km. Đặc biệt, hệ thống điều khiển tự động cho phép nó hoạt động trong những điều kiện thời tiết mà sẽ buộc trực thăng có người lái phải tạm dừng hoạt động.

MAV, loại trực thăng không người lái mini, nặng 8kg, trần bay 150m, nó rất hữu dụng trong môi trường đô thị. Thời gian hoạt động từ 20-60 phút. Nó mang theo camera ngày và đêm.

Loại mới nhất là Vigilante, nặng nửa tấn, thời gian hoạt động 6h, tải trọng 150kg, tốc độ tối đa 170km/h. Nó được sử dụng cho hệ thống robot bắn tỉa ARSS.

18.4.09

Predator C Avenger





Thế hệ thứ 3 của một trong những loại UAV nổi tiếng nhất, Predator, vừa chính thức ra mắt công chúng sau nhiều năm được xếp vào hàng dự án bí mật. So với 2 thế hệ trước, Predator và Predator B (Reaper), điểm khác biệt lớn nhất của Predator C là nó sử dụng động cơ phản lực. Đa số UAV sử dụng động cơ cánh quạt, chỉ những loại rất lớn như Global Hawk mới sử dụng động cơ phản lực.

Thiết kế của Predator C lần này nhấn mạnh yếu tố 'tàng hình'. Tải trọng tối đa là 1500kg bao gồm trong khoang chứa kín và treo dưới cánh và thân. Nếu cần tăng khả năng giảm tín hiệu radar thì chỉ khoang chứa kín được sử dụng. Khoang này có thể chứa bom thông minh hoặc dùng để đặt các thiết bị trinh sát, do thám. Ngoài ra, nó còn có thể dùng để chứa thùng nhiên liệu phụ, cho phép tăng thời gian hoạt động từ 20h lên 22h.

Cánh đuôi dạng chữ V giúp giảm tín hiệu radar phản xạ lại và giúp che bớt bức xạ nhiệt từ động cơ phản lực có sức đẩy 2300kg. Cửa hút gió cũng được thiết kế theo các nguyên tắc tàng hình, không cho radar phản xạ vào động cơ bên trong. Tốc độ tối thiểu là 400 hải lý/h.

Avenger được thiết kế với cánh có thể gập được, và có trang bị móc hãm, với mục đích sử dụng trên tàu sân bay, nếu hải quân muốn sử dụng nó.

Thế hệ Predator đầu tiên sử dụng động cơ piston cho phép thời gian hoạt động lâu. Nặng 1 tấn, dài 9m và sải cánh 16m. Nó có 2 điểm treo vũ khí, mỗi cái có thể mang 1 tên lửa Hellfire hoặc tên lửa không đối không Stinger. Tốc độ tối đa 215 km/h. Độ cao tối đa khoảng gần 10km. Mỗi phi vụ kéo dài khoảng 12-20h. Predator được thiết kế với nhiệm vụ chính là trinh sát, do thám mặc dù nó cũng có khả năng mang vũ khí.

Reaper hay Predator B sử dụng động cơ turbine cho phép tăng tải trọng và độ cao hoạt động, nó nặng 4.7 tấn, dài 12m, sải cánh 22m, 6 điểm treo, có thể mang 500 kg vũ khí, bao gồm cả tên lửa đối không AMRAAM, tên lửa đối đất Hellfire, Maverick, hay bom thông minh (laser hay gps). Tốc độ tối đa 400 km/h. Thời gian hoạt động 15h. Reaper được thiết kế như một máy bay tấn công thực thụ, thay thế cho F-16 hay A-10 trong một số loại nhiệm vụ.

Avenger, với động cơ phản lực, được coi như một giải pháp giá rẻ cạnh tranh với Global Hawk. Nó được cho là có tính năng tương đương 85% nhưng giá chỉ bằng phân nửa, 20 triệu dollar so với 40 triệu.

Tuy vậy, chi phí chính của những loại UAV cỡ lớn không phải là bản thân chiếc máy bay. Những UAV loại này có thể được trang bị những thiết bị cảm biến, thông tin liên lạc tương đương với những loại dùng trên vệ tinh. Một bộ như vậy có thể có giá tới 60 triệu dollar. Khi đó, những UAV này sẽ trở thành những thiết bị trinh sát chiến lược.

12.4.09

Thông tin mật trong xác máy bay


Cuối tháng 2 vừa qua, truyền thông trên thế giới đều đưa tin về vụ tai nạn của một chiếc máy bay của hãng Turkish Airlines tại Amsterdam làm 9 người thiệt mạng. Mới đây, người ta tiết lộ rằng trong số người chết có 4 nhân viên của hãng Boeing đang mang theo những thông tin tuyệt mật trong laptop của mình về một hệ thống radar cảnh báo sớm trên không mà Boeing chuẩn bị bán cho Thổ Nhĩ Kỳ.

Vài tiếng sau vụ tai nạn, Boeing liên hệ với Tòa đại sứ Mỹ đề nghị can thiệp để lấy lại những laptop đó càng sớm càng tốt. Theo một số nguồn tin thì các đặc vụ FBI bay ngay từ Frankfurt sang Hà Lan bằng máy bay thuê để lấy lại laptop mặc dù theo phía Hà Lan thì không có nhân viên nào tham gia và việc tìm kiếm và bảo vệ laptop sau vụ tai nạn.

Hệ thống nói trên là Peace Eagle, còn gọi là Wedgetail, là một hệ thống kiểm soát và cảnh báo sớm trên không, dựa trên mẫu máy bay Boeing 737-700. Trần bay 11km, tầm bay tối đa 3000 hải lý.

Thiết bị trung tâm của hệ thống là radar quét bằng điện tử đa chức năng (MESA). Nó bao quát 360 độ và có tầm hoạt động 200 hải lý, có khả năng theo dõi 3000 mục tiêu cùng lúc, cả trên không và trên biển. Điều đặc biệt so với các hệ thống cũ là hình dạng của radar. Các hệ thống cảnh báo sớm trên không trước đó dùng 1 đĩa radar xoay lớn, vì công nghệ khi đó là quét bằng cơ học. Công nghệ quét bằng điện tử không đòi hỏi radar phải di chuyển. Radar trên Peace Eagle theo dạng hình hộp, nằm dọc thân máy bay do đó giảm sức cản hơn so với radar đĩa.

4.4.09

DRFM - Bước tiến lớn trong chế áp điện tử

Cùng với sự phát triển không ngừng radar của máy bay và tên lửa không đối không dẫn bằng radar, các công nghệ chế áp điện tử (ECM) cũng phải phát triển theo. Trước kia, việc gây nhiễu (jamming) được coi là nền tảng của ECM. Tuy vậy, các tên lửa ngày càng thông minh hơn, thậm chí chúng còn có thể truy ra nguồn gây nhiễu (tức máy bay đối phương) và nhắm vào đó.

DRFM là kỹ thuật ghi nhớ tín hiệu radio kỹ thuật số. Về cơ bản, nó sẽ nắm bắt và số hóa một tín hiệu radio về tần số và băng thông để có thể tái hiện lại chính xác tín hiệu đó. Thông tin số hóa này được lưu vào bộ nhớ, để khi cần có thể đem ra để tái tạo lại tín hiệu đó và phát đi. Nói đơn giản nhất, nó là cách ta copy tín hiệu gốc.

Khi máy bay đối phương dùng radar chiếu vào mục tiêu, tín hiệu sẽ phản xạ lại, nếu máy bay của chúng ta có trang bị DRFM, nó có thể phát ra tín hiệu copy y hệt tín hiệu từ radar của máy bay đối phương. Khi đó, đối phương không thể nào phân biệt được đâu là tín hiệu phản xạ thật, đâu là tín hiệu do ta chủ động phát ra. Kế quả là ta có thể tạo ra mục tiêu giả trên màn hình radar đối phương. Ngoài ra, bằng cách tạo ra những thay đổi nhỏ về tần số, ta có thể tạo ra thông số lỗi về tốc độ. Bị đánh lừa cả về vị trí và tốc độ, tên lửa đối phương sẽ chệch hướng rất xa. DRFM không phát ra tín hiệu nhiễu, nên đối phương không thể dùng tên lửa trang bị bộ theo dầu nhiễu.

3.4.09

TQ và giấc mơ tên lửa đạn đạo diệt hạm

Từ tháng 7/1995 đến tháng 3/1996, TQ liên tiếp thực hiện 3 đợt thử nghiệm phóng tên lửa, với các điểm rơi càng ngày càng gần Đài loan. Trong đợt cuối, tên lửa TQ rơi ngay bên trong lãnh hải Đài loan, khiến cho tàu thuyền và máy bay dân sự phải đổi hướng, thị trường chứng khoán Đài loan tụt dốc, luồng vốn chảy ra khỏi đảo quốc này dưới sự lo lắng về một cuộc xâm lược có thể xảy ra. Mục đích chính của hành động gây hấn này là cảnh cáo Đài loan về việc độc lập cũng như gây sức ép lên công chúng Đài loan không bỏ phiếu cho tổng thống đương nhiệm, vốn là người ủng hộ chủ trương độc lập, trong kỳ bầu cử ngày 23/3. TT Mỹ khi đó là Bill Clinton, mặc dù là người theo đuổi chính sách thân thiện với TQ, nhưng với hành động không thể chấp nhận trên của chính quyền đại lục, đã ra lệnh cho 2 Hải đội Hàng không mẫu hạm là Independence và Nimitz lập tức triển khai tại khu vực. Nhận thức rõ ràng rằng mình không đủ sức đối phó với lực lượng này, sự hung hăng của TQ nhanh chóng xẹp xuống. Đồng thời, mục tiêu chính trị của họ cũng không đạt được, người dân Đài loan thay vì sợ hãi lại trở nên phẫn nộ và dồn phiếu cho tổng thống đương nhiệm.

Kể từ đó, TQ đặt ưu tiên cho việc tìm ra cách đối phó với tàu sân bay của hải quân Mỹ.Trong đó, đặc biệt tham vọng là kế hoạch dùng tên lửa đạn đạo trong vai trò diệt hạm. Trên lý thuyết, 1 tên lửa DF-21 với tầm bay 2000km, trang bị đầu đạn có độ chính xác 10m và lao xuống mục tiêu với vận tốc Mach 10 có thể coi là một nguy cơ thật sự cho bất cứ ai, cho dù đó là lực lượng hải quân hùng mạnh nhất trên thế giới.

Điều đặc biệt là ý tưởng này của TQ bắt nguồn từ chính một hệ thống vũ khí của Mỹ. Đó là tên lửa hạt nhân tầm trung Pershing II, được triển khai ở châu Âu đầu những năm 80. Trái với suy nghĩ thông thường về vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo, Pershing II có độ chính xác đáng kinh ngạc, với khả năng đánh trúng trong vòng 30m quanh mục tiêu. Độ chính xác này đạt được nhờ vào MARV, hay đầu đạn có khả năng cơ động. MARV thực chất là một loại đầu đạn con trang bị trên tên lửa có khả năng cơ động độc lập. Sau khi tên lửa bay đến một vị trí nhất định, thường là ở độ cao tối đa, MARV sẽ tách ra, quay trở lại bầu khí quyển và tự bay đến các mục tiêu đã được lập trình trước. MARV trên Pershing II được trang bị một radar dẫn đường, nó sẽ quét khu vực quanh mục tiêu, so sánh với dữ liệu trong bộ nhớ và điều khiển tên lửa vào mục tiêu. Pershing II chứng minh rằng tên lửa đạn đạo có thể đạt được độ chính xác đủ để tấn công 1 mục tiêu kích thước nhỏ, như một con tàu trên đại dương.

TQ bắt đầu nghiên cứu công nghệ MARV ngay sau khi Pershing II được triển khai. Cho tới nay, rất có thể là họ đã làm chủ công nghệ này. Loại tên lửa mà TQ dùng để mang MARV có thể là DF-21. Nó dùng động cơ đẩy nhiên liệu rằn, là mức phát triển cao nhất cho động cơ tên lửa quân sự, vì độ tin cậy và khả năng sẵn sàng chiến đấu cao hơn nhiên liệu lỏng. Nó có thể được phóng đi từ các giàn phóng di động trên xe cơ giới. Tầm bắn khoảng 2000km đủ để bao phủ khu vực mà tàu sân bay có thể triển khai nếu xảy ra xung đột ở eo biển Đài loan. Ngoài ra, đầu đạn của nó cũng lớn hơn so với DF-15, cho phép gây ra thiệt hại đáng kể cho tàu sân bay.

Để tăng khả năng đánh trúng, phiên bản DF-21 dùng cho mục đích này được tăng thêm 1 tầng tên lửa đẩy, nhằm tăng tính khó phán đoán của đường bay. Đầu đạn được thay đổi để giảm diện tích phản xạ radar. Ngoài ra, họ thêm vào đó một đầu dò đa chế độ: radar chủ động, thụ động và hồng ngoại.


Tuy nhiên, trước khi phóng tên lửa, TQ sẽ phải ít nhất là phát hiện được sự có mặt của tàu sân bay, xác định được vị trí chung của nó. Dữ liệu sẽ đến từ một trong các nguồn sau:

Vệ tinh trinh sát: các loạt vệ tinh Ziyuan, Yaogan được trang bị cảm biến quang điện tử, CCD, radar mặt đất SAR. Đặc biệt quan trọng là hệ thống FY, về cơ bản nó là một loạt vệ tinh quan sát trái đất. TQ từng tuyên bố sẽ phóng lên 100 vệ tinh quan sát. Một khả năng khác là phóng những vệ tinh mini, tuổi thọ ngắn khi xung đột xảy ra. TQ được tin là có khả năng phóng lên 1 vệ tinh 100kg 5 tiếng sau khi có chiến tranh. Trong một cuộc thử nghiệm, vệ tinh mini hoạt động trong 27 ngày.

Radar tầm xa ngoại biên, tầm hoạt động 800 - 3000km, độ chính xác từ 20-30km. Nếu sử dụng thuật toán tốt hơn có thể giảm xuống còn 2-3km.

UAV: TQ có những dự án UAV copy theo các dự án của Mỹ, bao gồm loại hoạt động ở độ cao lớn như Global Hawk và trung bình như Predator. Thời gian hoạt động khoảng 20 giờ.

Cơ chế hoạt động có thể theo những bước sau:

Khi xung đột nổ ra, TQ trước tiên sẽ phóng một số vệ tinh mini trang bị cảm biến quang điện tử để tăng khả năng thám sát. Họ sẽ cho các UAV cỡ lớn bay ra trinh sát. Radar tầm xa ngoại biên sẽ cung cấp những thông tin so khởi về vị trí của hạm đội. Thông tin này được cung cấp cho vệ tinh để chúng tập trung tìm kiếm khu vực đó và xác định tọa độ chính xác. Tên lửa khi được phóng lên, sẽ mất chừng 12 phút để bay đến mục tiêu cách 2000km. Trong giai đoạn giữa, nó sẽ phải được cập nhật vị trí mới của mục tiêu. Khi tiếp cận mục tiêu, sẽ có 3 giai đoạn: dẫn hướng trên cao, lướt đi và dẫn hướng ở độ cao thấp. Ý nghĩa chính có thể là làm giảm vận tốc của đầu đạn trong giai đoạn cuối để đầu dò có thêm thời gian tìm kiếm mục tiêu.

Tất cả những thông tin trên vẫn chỉ ở mức phỏng đoán, TQ không đưa ra bất cứ thông tin cụ thể nào một cách chính thức, đặc biệt là về việc hệ thống đã sẵn sàng hoạt động. Tuy vậy, một vấn đề khác không kém phần khó khăn so với vấn đề kỹ thuật là DF-21 là tên lửa chiến lược được thiết kế để mang đầu đạn hạt nhân. Khi một tên lửa được phóng lên, không ai có thể biết chắc nó là tên lửa mang đầu đạn diệt hạm hay hạt nhân. Người Mỹ hoàn toàn có thể nghĩ rằng TQ đang tiến hành chiến tranh hạt nhân và trả đũa. Tình huống tương tự cũng đã xảy ra khi Nga kịch liệt phản đối kế hoạch của Mỹ hoán chuyển một số tên lửa chiến lược Trident trên tàu ngầm hạt nhân lớp Ohio từ đầu đạn hạt nhân sang đầu đạn thường để dùng trong những cuộc tấn công chớp nhoáng và bất ngờ vào những mục tiêu có giá trị cao và thường đòi hỏi phản ứng nhanh. Ví dụ như khi vị trí của một trùm khủng bố được phát hiện ở một vùng xa xôi hẻo lánh, và không có không gian hay thời gian đủ để máy bay bay đến đó và không kích.

7.3.09

UAV của lục quân với chiến tích đầu tiên

Warrior Alpha
Viper Strike

Hunter


Cuối tháng trước, một chiếc UAV Warrior-Alpha thuộc đội công tác đặc biệt ODIN đã bắn quả tên lửa đầu tiên trên chiến trường, mục tiêu là một nhóm phiến quân đang giao chiến với lực lượng liên quân ở Diyala, Afghanistan và đã tiêu diệt toàn bộ mục tiêu. Warrior là UAV đầu tiên của lục quân Mỹ được trang bị vũ khí, điều mà các UAV của không quân đã làm trước đó.

Warrior- Alpha được phát triển lên từ mẫu UAV nổi tiếng Predator. Được sử dụng lần đầu ở Iraq năm 2007, nó chủ yếu đóng vai trò trinh sát, thám sát. Với thời gian hoạt động liên tục đến 36 tiếng, Warrior rất thành công trong nhiệm vụ của mình. Một khi mục tiêu đã được xác định, trực thăng vũ trang hoặc phản lực cơ chiến đấu sẽ được gửi tới để tiêu diệt. Bây giờ thì nó có thể tự mình tấn công mục tiêu.

Warrior không phải là UAV duy nhất lục quân Mỹ trang bị vũ khí, họ đang trang bị lại cho Hunter, một loại UAV cũ hơn, để nó có thể mang theo bom lượn Viper Strike.

Viper Strike là một loại bom nhỏ, kết hợp giữa dẫn đường bằng vệ tinh và laser, có độ chính xác rất cao, dưới 1m. Được trang bị bộ cánh lớn, cứ mỗi 1m khi rơi xuống, nó sẽ lượn đi xa 10m.

16.2.09

FAB-T


Không lực Mỹ vừa gắn một thiết bị viễn thông qua vệ tinh tốc độ cao lên các máy bay ném bom hạng nặng của mình. FAB-T, tên của thiết bị, cho phép các máy bay sử dụng đường truyền với băng thông của internet tốc độ cao, 8 megabit / giây. Nó có thể liên lạc với tất cả các thiết bị thu phát trên không và trên bộ khác có khả năng chia sẻ dữ liệu dưới dạng video, hình ảnh, âm thanh v.v…Việc chia sẻ dữ liệu này cho phép việc sử dụng bom thông minh nhanh và chính xác hơn.

15.2.09

Tiết lộ về F-22


Không lực Mỹ vừa chính thức tiết lộ một số thông số kỹ thuật của F-22, chiến đấu cơ hiện đại nhất thế giới hiện nay.

Về tính năng tàng hình, đối với radar, F-22 chỉ tương đương với một viên bi thép. F-35, loại chiến đấu cơ đa năng ra đời sau F-22, tương đương với một quả bóng golf thép. Những thông số này thật ra đã được đồn đoán nhiều trong thời gian qua một cách không chính thức trong giới quân sự, một số người đã có cách so sánh gần giồng với cách không lực Mỹ công bố. Một số phi công tham gia huấn luyện với F-22 mô tả nó chỉ như một 'con chim sẻ' đối với radar. Tuy vậy, đây là lần đầu tiên có một công bố chính thức.

Thông số của radar AESA được công bố là 210km, so vớ 200km trong bản thông số chính thức trước. Nó có thể phát hiện tính hiệu của radar đối phương từ 300km.

Có thể coi sự công bố này là một bước nữa trong một chiến dịch của Không lực nhằm thuyết phục Quốc Hội đồng ý cho sản xuất thêm F-22, nhiều hơn mức 183 chiếc hiện tại. Hiện nay, giá thành sản xuất mỗi chiếc F-22 là 145 triệu dollar.

Tuy vậy, cũng như mọi thông số vũ khí khác, không ai biết chắc liệu đây có phải đã là thông số chính xác hay chưa. Vì giới quân sự luôn công bố ở mức thấp hơn thực tế, vì những lí do mà ai cũng hiểu.

29.12.08

Raven được trang bị video kỹ thuật số


UAV Raven (RQ-11) đang được trang bị hệ thống viễn thông mới cho phép nó truyền hình ảnh kỹ thuật số thay vì analog. Nó cho phép tăng độ phân giải của hình ảnh và tăng số lượng Raven có thể cùng hoạt động trong một khu vực.

Không nổi tiếng như Predator, nhưng Raven, một loại micro-uav, lại có một vai trò cực kỳ quan trọng. Raven nặng chưa tới 2.5 kg, giá khoảng 30,000 dollar.

Lục quân Mỹ mua khoảng 2000 chiếc, và thường được đại đội trưởng sử dụng. Có nghĩa là mỗi tiểu đoàn bộ binh có 9 chiếc. Đây là một bước phát triển vượt bậc về khả năng trinh sát đường không ở cấp tiểu đoàn, vốn trước đây hoàn toàn phụ thuộc vào cấp sư đoàn, hoặc các đơn vị không quân.

Raven rất dễ sử dụng, nó có thể được phóng lên bằng cách ném đi bằng tay hoặc bằng dây cao su. Nó cũng rất yên lặng, vì sử dụng động cơ điện. Raven có thể bay liên tục trong 4 giờ, độ cao tối đa 300m. Bộ điều khiển trông không khác mấy các cơ cấu điều khiển trong video game.

15.12.08

…và chúng vẫn bay mãi...


Một chiếc C-130E của Không lực Mỹ vừa đạt mốc 30,000h bay, nó được cho là sẽ tiếp tục phục vụ trong 2 năm nữa, với thêm 3,000h bay. Được sản xuất từ những năm 60, chiếc máy bay này đã trải qua 7 lần nâng cấp.

Hiện nay hầu như toàn bộ trong số 491 chiếc C-130E từng được chế tạo vẫn còn hoạt động. Trung bình, một chiếc C-130 hoạt động trong 25 năm với 20,000h bay. Một số ít nếu không phải chịu đựng nhiều phi vụ khó, bay trong thời tiết xấu với tải trọng lớn có thể kéo dài tuổi thọ của mình.

C-130 đã một lịch sử 51 năm, với 2262 chiếc ra đời, và nó vẫn còn được sản xuất tới ngày nay. Có một số mẫu máy bay khác cũng có tuổi đời hơn nửa thế kỷ như B-52, Canberra, Tu-95, AN-2, nhưng không có chiếc nào vẫn còn trong dây chuyền sản xuất cho tới nay như C-130. Hiện có hơn 50 quốc gia sử dụng C-130.

Ban đầu, C-130 có thể chở được 15 tấn hàng hóa hay 92 lính. Phiên bản mới nhất C-130J có thể chở được 20 tấn với vận tốc tối đa 644km/h.

10.12.08

Trực thăng không ngon ăn như vẫn nghĩ


Từ những năm 80, UH-60 Blackhawk bắt đầu thay thế cho UH-1 Huey và AH-64 Apache thay thế cho AH-1 Cobra. Những thiết kế mới không những hiệu quả mà còn an toàn hơn, và tất nhiên là đắt hơn. Kết quả là rất rõ ràng, khi mà số vụ tai nạn giảm từ hơn 1000 trong những năm 90 xuống còn dưới 200 một năm như hiện nay. Và trong trường hợp xảy ra tai nạn, khả năng sống sót của phi hành đoàn cũng cao hơn nhiều.

Trong chiến tranh, trực thăng hiện nay cũng an toàn hơn. Từ 2003, quân đội Mỹ tổn thất khoảng 70 trực thăng. Trong thời kì cao điểm, 2005-2007, bình quân mỗi tháng trực thăng bị nhắm bắn 100 lần, với khoảng 17 lần bắn trúng. Nhưng chỉ một số rất ít có thể bắn hạ. Trong chiến tranh Việt Nam, có 2076 trực thăng rơi trong chiến trận và 2566 vì tai nạn. Tại VN, trực thăng Mỹ thực hiện khoảng 36 triệu phi vụ với 20 triệu giờ bay. Nói chung, trong chiến tranh VN, khả năng một chiếc trực thăng bị bắn hạ cao gấp đôi tại Iraq hiện nay.

Có thể kể đến 2 nguyên nhân chính, kỹ thuật và chiến thuật. Trực thăng hiện nay có thiết kế vững chắc hơn, cho phép nó vẫn bay được khi bị bắn trúng, và nếu không thể bay được, nó vẫn sẽ có thể đáp xuống thay vì rơi. Một nhân tố quan trọng có lẽ là việc trực thăng ngày nay sử dụng động cơ kép thay vì một động cơ như các thế hệ trước. Về mặt chiến thuật, Việt Nam là chiến trường đầu tiên mà trực thăng được sử dụng với quy mô lớn, từ đó nhiều bài học kinh nghiệm đã được rút ra và người ta đã phát triển nhiều chiến thuật mới cho phép giảm thiểu khả năng trực thăng bị bắn trúng. Những chiến thuật, kỹ thuật mới xuất hiện đặc biệt nhanh nếu đang trong thời chiến.

Ví dụ như ở Iraq, con số tổn thất giảm từng năm, kể từ 2003, trong khi số giờ bay lại tăng lên, từ 240,000 giờ năm 2005 lên 400,000 năm 2007.

8.12.08

Nga mua Israel UAV


Nga đang tìm mua một loại UAV từ Israel. Nga đã chế tạo UAV từ vài thập kỷ nay nhưng chưa đạt được thành tựu như của Israel và Mỹ trong lĩnh vực này. Một mẫu mà người Nga có thể hứng thú là Heron TP. Được trang bị một động cơ cánh quạt mạnh, 1,200 mã lực, chiếc máy bay 4.6 tấn này có thể bay cao 15,000m. Heron có thể mang tải 1 tấn, thời gian hoạt động liên tục 36 tiếng. Heron là mẫu tương đương với Reaper (Predator B) của Mỹ.

Dòng Heron đã có mặt từ trước Predator và có uy tín rất cao. Ấn độ và vài nước châu âu cũng đang định mua Heron TP, có thể dùng để tuần tra vùng lãnh hải. Về mặt này, Heron TP là một đối thủ giá rẻ với Global Hawk, vốn có tầm bay xa hơn nhiều so với nhu cầu của đa số quốc gia.

Kể từ sau chiến tranh VN, người Mỹ không còn hứng thú với UAV nữa, trong khi đó Israel tiếp tục phát triển. Và trong chiến dịch ở thung lũng Bekaa, Lebanon, UAV đã đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tiêu diện lực lượng Syria ở đó, bao gồm việc phát hiện các giàn radar phòng không và vị trí các đơn vị thiết giáp.

Ấn tượng bởi thành công này, người Mỹ quyết định mua UAV từ Israel. Một vài mẫu đã tham gia Chiến tranh Vùng Vịnh, tiêu biểu là mẫu Pioneer, dùng để chỉ thị pháo kích cho hải quân Mỹ. Từ đó, người Mỹ bắt đầu tập trung đầu tư cho phát triển UAV.

Người Nga đang gặp vấn đề tương tự Nga trong những năm 70, với UAV có thời gian hoạt động rất ngắn và độ tin cậy thấp. Người ta tin rằng việc Israel xuất khẩu Heron TP là nhằm đổi lại việc Nga sẽ không xuất khẩu tên lửa phòng không S-300 sang Iran.