Showing posts with label Thế giới. Show all posts
Showing posts with label Thế giới. Show all posts

7.12.11

Mỹ - Công nghệ trong Transformers 3

Công nghệ trong Transformers 1 và 2

So với 2 phần trước, Transformers 3 ít có sự xuất hiện của các 'đồ chơi' quân sự hơn, và nếu có thì cũng là những loại đã xuất hiện trong 2 phần trước. Loại vũ khí cá nhân nổi bật nhất trong Transformers 3, chưa từng xuất hiện trong 2 phần trước, có lẽ là khẩu súng trường bán tự động LaRue OBR, đã được các xạ thủ dùng để bắn vỡ mắt các robot Decepticon ở cuối phim. Sử dụng đạn 7.62mm, LaRue OBR là mẫu súng trường dành cho xạ thủ mới được sử dụng gần đây, nhưng rất được các lực lượng đặc nhiệm tín nhiệm, do kết hợp được tính chính xác, độ tin cậy cao và trọng lượng nhẹ. Trong cuộc thi thường kì giữa các xạ thủ quốc tế gần đây nhất, 3 trong số 4 vị trí cao nhất là những người sử dụng LaRue.

Trong phần cuối của cuộc chiến trong thành phố, lính đặc nhiệm NEST và SEAL dẫn đường cho các tên lửa hành trình Tomahawk bắn hạ các chiến đấu cơ robot của phe Decepticon. Trên thực tế thì Tomahawk chỉ để tấn công các mục tiêu cố định trên bộ hoặc tàu chiến trên biển, chứ không phải là loại tên lửa có thể tấn công các mục tiêu trên không. Tuy vậy, nếu xét đến việc những chiến đấu cơ này bay với tốc độ rất chậm, gần như chỉ lơ lửng trên không, và ở độ cao thấp thì việc dùng Tomahawk cũng có thể xảy ra, ít nhất trên lý thuyết, vì Tomahawk thế hệ mới nhất hiện nay đã tiến hóa rất nhiều so với các thế hệ trước của mình.

Các tên lửa hành trình, như Tomahawk, về cơ bản có thể xem như những máy bay cảm tử kamikaze không người lái. Tuy gọi là ‘tên lửa’, nhưng nó sử dụng động cơ phản lực giống và có cánh giống như máy bay. Vì vậy, tên lửa hành trình nói chung có tốc độ khá chậm so với các tên lửa thông thường, thường là dưới tốc độ âm thanh. Tuy nhiên, cũng nhờ tốc độ chậm như vậy nên nó có thể bay rất thấp, và có thể luồn lách, bám sát theo địa hình. Điều này khiến nó rất khó bị phát hiện và ngăn chặn.

Ưu điểm lớn nhất của tên lửa hành trình là độ chính xác của nó. Thế hệ ban đầu của Tomahawk sử dụng 2 cơ chế dẫn đường khác nhau. Trong phần lớn quãng đường, nó dùng radar để quét địa hình bên dưới, so sánh với dữ liệu được lưu trong bộ nhớ, và do đó biết được vị trí hiện tại của mình. Vào giai đoạn cuối, khi tiếp cận mục tiêu, Tomahawk dùng camera để so sánh hình ảnh thu được và hình ảnh mục tiêu lưu trong bộ nhớ và đánh trúng mục tiêu đã được đánh dấu.

Phương pháp này có nhược điểm là nếu tên lửa bay qua vùng định hình hoàn toàn bằng phẳng, như sa mạc, thì nó sẽ không thể phân biệt được mình đang ở đâu và sẽ bị lạc đường. Vì lí do này trong chiến tranh Vùng Vịnh 1991, hải quân Mỹ khi phóng Tomahawk vào thủ đô Baghdad, họ không phóng theo đường thẳng qua sa mạc mà đi đường vòng qua vùng đồi núi của nước láng giềng Iran. Ngoài ra, phương pháp này cũng đòi hỏi rất nhiều thời gian lên kế hoạch trước mỗi cuộc tấn công.

Thế hệ tiếp theo chuyển sang cơ chế dẫn đường sử dụng định vị vệ tinh (GPS). Với phương pháp này, thời gian chuẩn bị tấn công được rút ngắn do chỉ cần nhập vào toạ độ của mục tiêu. Tuy nhiên, một khi đã được phóng đi, người ta không thể thay đổi mục tiêu cho tên lửa. Thế hệ Tomahawk mới nhất được bổ sung đường truyền vệ tinh 2 chiều, do đó cho phép cập nhập thay đổi mục tiêu trên đường bay, nó cũng có thể truyền hình ảnh trực tiếp từ camera gắn trên tên lửa về trung tâm chỉ huy, giống như cảnh trong Transformer 3. Thế hệ Tomahawk mới nhất cũng được trang bị cảm biến laser, do đó lực lượng trên mặt đất có thể dùng tia laser chiếu vào mục tiêu, và hướng Tomahawk vào chính xác mục tiêu đó, kể cả khi mục tiêu đang di chuyển, giống như những gì lính đặc nhiệm NEST và SEAL đã làm đối với các phi cơ Decepticon.

Chinh phục mặt trăng

Transformer 3 dựa trên sự kiện có thật là sứ mạng tàu Apollo 11 đưa Neil Amstrong và Buzz Aldrin trở thành những người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng. Và trong phần cuối hãy cùng nhắc đến sự kiện lịch sử này. Trước tiên là 1 số thú vị nhỏ về chương trình Apollo.

Để phòng ngừa trường hợp các phi hành gia bị nhiễm một loại vị khuẩn lạ khi trở về từ mặt trăng, NASA yêu cầu mọi phi hàng gia bị cách ly 21 ngày sau khi đặt chân trở lại Trái đất.

Nhiều người đã từng nghe câu chuyện vui về việc Mỹ chi hàng triệu dollar để chế tạo loại viết bi có thể viết được trong môi trường không trong lực. Còn Liên Xô chỉ đơn giản là dùng viết chì. Trong thực tế thì cũng có 1 chút liên quan đến câu chuyện trên. Đúng là có 1 loại viết bi được thiết kế đặc biệt cho môi trường không trọng lực. Tuy nhiên nó không phải do NASA thiết kế, mà do 1 công ty tư nhân. Và công ty này bán bản quyền cho cả Mỹ lẫn Liên Xô. Bản thân NASA cũng định đặt hàng 1 lô 34 cây viết chì với giá lên tới $4,400/cây, tương đương $30,000 hiện nay. Nhưng khi tin này lọt ra ngoài, NASA buộc phải chuyển sang nhà cung cấp rẻ hơn để xoa dịu cơn giận dữ của công chúng.

Chi tiết bất ngờ nhất liên quan đến chương trình thám hiểm mặt trăng là việc nó nhận được rất ít sự ủng hộ của công chúng vào thời điểm đó. Theo các khảo sát thì ít hơn 50% công chúng Mỹ ủng hộ chương trình này, thậm chí  ngay cả sau sự kiện Neil Amstrong đặt chân lên mặt trăng, tỷ lệ ủng hộ cũng chỉ tăng lên chút ít, 53%, trước khi giảm xuống trở lại.

Sau khi Neil Amstrong và Buzz Aldrin quay lại module đổ bộ sau chuyến đi dạo trên mặt trăng, họ phát hiện ra một cầu chì trên hệ thống điều khiển động cơ phản lực bị đứt, nghĩa là họ không thể khai hoả động cơ này và rời khỏi mặt trăng. Các phi hành gia đã thay vào đó 1 cây viết để nối mạch điện. Một chi tiết thú vị khác liên quan đến công nghệ của tàu Apollo là chiếc máy tính được trang bị cho tàu vào thời điểm đó chỉ có năng lực tính toán tương đương một máy tính cầm tay của học sinh trung học hiện nay.

Sự thật hay nguỵ tạo

Nổi tiếng không kém việc bản thân sự kiện chinh phục mặt trăng là giả thuyết rằng sự kiện này không có thật, và việc Neil Amstrong cùng Buzz Aldrin đặt chân lên mặt trăng đã được dàn dựng, cho dù nó được truyền hình trực tiếp trên toàn thế giới. Giả thuyết này nhận được rất nhiều sự đồng tình từ những người tin vào 'thuyết âm mưu', những người không quen thuộc với tính chất 'thượng vàng hạ cám' của nền truyền thông phương Tây, hay những người đơn giản là thích những tin tức 'giật gân'. Vậy trên thực tế, liệu có phải việc con người đặt chân lên mặt trăng là nguỵ tạo?

Trước tiên phải thấy rằng nếu thật sự việc đổ bộ lên mặt trăng là do dàn dựng thì chính Liên Xô là những người đầu tiên có khả năng và động lực để lên tiếng. Thời điểm của chương trình Apollo là cao điểm của chiến tranh lạnh, với 2 siêu cường Mỹ và Liên Xô ganh đua quyết liệt với nhau trên mọi lĩnh vực. Dĩ nhiên Liên Xô sẽ không bao giờ im lặng nếu phát hiện việc Mỹ đưa người lên mặt trăng chỉ là giả. Hơn nữa cả 2 siêu cường này đều luôn có thể theo dõi sát sao việc phóng các tàu không gian của nhau, do đây cũng là yêu cầu trong việc phòng thủ hạt nhân.

Trên thực tế các tên lửa hạt nhân chiến lược và tên lửa đẩy của tàu không gian khá tương đồng. Đối với tên lửa đạn đạo, tầm bắn càng xa thì nó càng cần phải đạt được độ cao lớn. Do đó các tên lửa chiến lược của 2 nước, với tầm bắn hàng ngàn km, cũng cần vượt ra ngoài tầng khí quyển. Do đó, có thể chuyển đổi các tên lửa chiến lược sang thành tên lửa đẩy dùng để phóng vệ tinh. Ví dụ như mẫu tên lửa hạt nhân RS-20 của Liên Xô được chuyển thành tên lửa phóng vệ tinh Dnepr.

Trong khi đó tên lửa đẩy Saturn V dùng để đưa tàu Apollo vào không gian là tên lửa lớn nhất từng được chế tạo. Theo như 'giả thuyết' thì sau khi tách ra khỏi tên lửa, tàu Apollo 11 không bay đến mặt trăng mà quay trở lại Trái Đất và đáp xuống 1 địa điểm bí mật. Như đã phân tích ở trên, rất khó có thể tin rằng Liên Xô không thể theo dõi việc phóng tàu, và không biết gì về việc tàu Apollo đang đi đâu.

Thứ hai, những người hoài nghi thường tập trung vào việc chứng minh việc Neil Amstrong và Buzz Aldrin chưa từng đặt chân mặt trăng mà quên rằng việc chinh phục mặt trăng không chỉ gồm chuyến bay Apollo 11, mà còn nhiều chuyến bay khác sau đó. Trong số đó bao gồm cả sự cố của chuyến bay Apollo 13 nổi tiếng, đã làm cả thế giới nín thở theo dõi sự sống còn của 3 phi hành gia trong suốt nhiều ngày liền trong không gian. Và đằng sau những chuyến bay đó là toàn bộ chương trình thám hiểm mặt trăng, một dự án khổng lồ với sự tham gia của hàng ngàn người thuộc chính phủ lẫn các công ty tư nhân. Với một quy mô lớn như vậy, việc bảo đảm bí mật, nếu thật sự có việc dàn dựng ở đây, là rất khó.

Hơn nữa, có lẽ rất ít người biết rằng chương trình Apollo không chỉ bao gồm nỗ lực của người Mỹ mà còn có sự tham gia của các quốc gia khác. Lí do là vì mặt trăng luôn xoay quanh trái đất, do đó sẽ có những lúc tàu Apollo và nước Mỹ ở 2 phía khác nhau của Trái Đất. Khi đó sóng vô tuyến liên lạc từ tàu sẽ không thể đến được cái trạm liên lạc đặt tại Mỹ và ngược lại. Để bảo đảm liên lạc luôn thông suốt giữa tàu Apollo và Trung tâm điều hành sứ mệnh, NASA xây dựng 2 tổ hợp liên lạc tại Tây Ban Nha và Úc. Như vậy bất cứ lúc nào cũng có ít nhất 1 trạm liên lạc có thể nhận và truyền sóng vô tuyền từ và đến tàu Apollo. Các trạm này đều được vận hành bởi quốc gia sở tại. Tại Tây Ban Nha là bởi Viện công nghệ không gian quốc gia INSA và tại Úc là bởi Cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghiệp khối Thịnh vượng chung. Do đó có thể thấy không chỉ có người Mỹ mới biết vị trí tàu Apollo đang ở đâu, vì vậy việc nguỵ tạo là gần như không thể.

Một bí mật nữa ít người biết, đó là những chuyến đáp xuống mặt trăng của các tàu Apollo vẫn đang tiếp tục phục vụ cho khoa học ngày nay. Đó là vì những tàu đổ bộ mặt trăng đã để lại các tấm phản chiếu trên bề mặt của mặt trăng, và các nhà khoa học từTrái Đất sẽ chiếu tia laser vào các tấm phản chiếu này. Bằng việc đo thời gian từ lúc chiếu tia laser đến lúc nhận được tín hiệu phản xạ trở về, các nhà khoa học có thể tính được khoảng cách từ Trái Đất đến mặt trăng. Việc theo dõi khoảng cách này đã được thực hiện liên tục từ đó cho tới nay, với độ chính xác ngày càng tăng do sự phát triển của công nghệ. Hiện nay người ta đã có thể đo với sai lệch chỉ khoảng 1mm. Nhờ những đo đạc chính xác này, các nhà khoa học có những khám phá quan trọng, như mặt trăng đang bay xa dần Trái Đất, trung bình mỗi năm xa thêm 38mm, phần lõi của mặt trăng là chứa nhiều chất lỏng, và giúp chứng minh nhiều lý thuyết vật lý liên quan đến trọng lực.

Trên thực tế, việc đặt các tấm phản chiếu này có thể được thực hiện bằng các tàu thăm dò không người lái như Liên Xô đã làm. Tuy nhiên những tấm phản chiếu này có kích thước rất nhỏ, do tải trọng của các tàu không người lái nhỏ hơn nhiều tàu Apollo. Ngoài ra, nhờ việc có con người điều khiển, tàu Apollo có thể đặt các tấm phản chiếu ở gần các vị trí mong muốn.

Những tấm phản xạ này không phải là thứ duy nhất được còn lại trên mặt trăng từ các chuyến đổ bộ của tàu Apollo. Trên bề mặt mặt trăng hiện nay còn rất nhiều thiết bị bỏ lại từ các chuyến đổ bộ của tàu Apollo. Mọi khoang đổ bộ khi rời khỏi bề mặt mặt trăng đều để lại tầng dưới cùng. Ngoài ra trong 3 chuyến Apollo cuối (15, 16, 17) các phi hành gia còn đem lên các xe điện vượt địa hình để di chuyển. Những xe này vẫn còn được để lại trên mặt trăng. Ngoài ra còn có các ăng ten liên lạc, các bịch chứa rác, quần áo, chất thải của các phi hành gia. Số rác này được để lại nhằm giảm tối đa trọng lượng khi các phi hành gia rời mặt trăng. Ngày nay người ta vẫn có thể chụp hình và nhìn thấy các thiết bị này trên bề mặt mặt trăng. Thậm chí quanh các vị trí đổ bộ, các dấu chân và dấu bánh xe vẫn còn có thể được nhìn thấy rất rõ.


Từ đó có thể khẳng định rằng việc con người đặt chân lên mặt trăng là có thật, và đó là 1 thành tựu vĩ đại của cả loài người chứ không của riêng 1 quốc gia nào.

Mỹ - "Trận chiến Los Angeles" hay "Trận chiến của Thuỷ quân lục chiến"

"Trận chiến Los Angeles" (Battle: LA) không phải là 1 bộ phim quá hoành tráng về mặt kỹ xảo, nhưng bù lại rất lôi cuốn với tiết tấu nhanh, cực kì sống động, hình ảnh và âm thanh được chăm chút tốt, cốt truyện khá hợp lý, rất ít cảnh thừa. Nói tóm lại khán giả gần như không thể rời mắt khỏi màn hình trong suốt cả bộ phim.

'Trận chiến Los Angeles' có cảm hứng dựa trên một sự kiện có thật vào đêm 24, rạng sáng ngày 25 tháng 2 năm 1942. Khi đó, thành phố Los Angeles được báo động vì có 1 cuộc không kích của phát xít Nhật sắp xảy ra. Lực lượng phòng không bắn lên hơn 1,400 phát đạn phòng không. Nhưng trên thực tế thì không hề có một cuộc tấn công nào. Cuộc điều tra sau đó cho rằng nguyên nhân của vụ báo động giả này là sự kết hợp giữa  tình trạng căng thẳng mà nước Mỹ đang trải qua chưa đầy 3 tháng sau vụ Trân Châu Cảng, một cảnh báo từ cục tình báo hải quân 1 ngày trước đó, và sự xuất hiện của 1 số khí cầu khí tượng. Tuy nhiên nhiều người tin rằng đã có các UFO xuất hiện trong đêm đó.

Trung tâm của bộ phim là một nhóm thuỷ quân lục chiến Mỹ chiến đấu chống lại cuộc tấn công của người ngoài hành tinh vào thành phố Los Angeles. Hiển nhiên là bộ phim đã PR rất tốt cho lực lượng TQLC Mỹ. Đây cũng chỉ là 1 trong rất nhiều bộ phim tương tự xoay quanh TQLC Mỹ. Có thể nói TQLC Mỹ không chỉ đơn thuần là 1 lực lượng quân sự mà đã trở thành 1 trong những biểu tượng của nước Mỹ, 1 hình tượng rất quen thuộc trong phim ảnh, luôn được Hollywood ưu ái hơn bất kì lực lượng nào khác. Vậy điều gì đã tạo nên sự nổi tiếng đó.

Trước tiên hãy điểm qua 1 số điều nên biết về thuỷ quân lục chiến nói chung và thuỷ quân lục chiến Mỹ nói riêng.

Nếu như lục quân, không quân, hải quân là một khái niệm quen thuộc với mọi người thì thuỷ quân lục chiến hơi phức tạp hơn. Có thể chia binh chủng này thành 2 loại: 'Naval Infantry' và 'Marines'. Naval Infantry có thể xem như phần của hải quân, trang bị nhẹ, nhiệm vụ chủ yếu là đảm bảo an ninh cho các cơ sở, căn cứ hải quân trên bờ, hoặc thực hiện 1 số chiến dịch có quy mô hạn chế trên cạn. Marines ngược lại có mức độ độc lập tác chiến cao hơn, có thể chiến đấu như 1 đơn vị bộ binh sâu bên trong đất liền. Tất nhiên sự phân loại và so sánh này chỉ mang tính tương đối, việc một nước quyết định chọn tên gì không phụ thuộc vào bất kì 1 tiêu chí nào.

TQLC Mỹ là 1 trong 4 quân chủng của quân đội Mỹ, ngang hàng với Hải lục không quân, và là quân chủng nhỏ nhất, chỉ chiếm khoảng 6%-7% tổng ngân sách quốc phòng. Tuy vậy quy mô của nó (hơn 200,000 người) cũng đã lớn toàn bộ quân đội của nhiều quốc gia.

TQLC Mỹ có thể xem như 1 quân đội nhỏ. Nó có đầy đủ các binh chủng thành phần để tác chiến độc lập trên bộ. Nó có bộ binh, không quân, pháo binh, thiết giáp, trực thăng…riêng. Không lực của TQLC Mỹ bao gồm chiến đấu cơ F-18 hoạt động trên các tàu sân bay cỡ lớn, và các chiến đấu cơ lên thẳng Harrier hoạt động trên các tàu hỗ trợ đổ bộ. TQLC Mỹ sử dụng xe tăng chủ lực Abram tương tự như của lục quân, xe bọc thép bánh hơi LAV, xe bọc thép lội nước AAV. Pháo binh bao gồm các giàn pháo hoả tiễn GMLRS dẫn đường bằng vệ tinh với tầm bắn 90km và dộ chính xác tương đương bom thông minh, pháo 155mm M777 siêu nhẹ với trọng lượng chỉ bằng 1 nửa so với pháo cùng loại, vào pháo cối các cỡ. Lực lượng trực thăng bao gồm trực thăng hạng nặng Super Stallion, Chinook, trực thăng đa dụng Black Hawk, Huey, trực thăng vũ trang Cobra, phi cơ chong chóng lật Osprey…Nói cách khác, trong số các lực lượng TQLC trên thế giới, TQLC Mỹ vượt xa về trang bị và khả năng tác chiến độc lập.

Sở dĩ như vậy là do TQLC Mỹ có tính chất giống như 1 lực lượng viễn chinh phản ứng nhanh toàn cầu của quân đội Mỹ. Trong chiến tranh nó sẽ đóng vai trò mở đường, chiếm giữ trước khi lực lượng chính được triển khai. TQLC Mỹ khi trực chiến được biên chế thành những đơn vị viễn chinh quy mô tiểu đoàn, trung đoàn và lữ đoàn đóng ngay trên các tàu hỗ trợ đổ bộ lênh đênh trên biển. Những đơn vị này có tính độc lập và cơ động cao, với đầy đủ các đơn vị trên không, trên bộ, và được trang bị đủ cho khoảng 30 ngày. Sau đó các đơn vị lục quân sẽ tiếp quản nhiệm vụ từ TQLC.

Trong nhiều bộ phim TQLC Mỹ thường được mô tả như một lực lượng tinh nhuệ, bản thân những người lính TQLC cũng thích nghĩ về mình như vậy. Nhưng thật sự thì về bản chất, TQLC Mỹ chỉ là 1 lực lượng quân sự chính quy thông thường, vì không ai có thể tạo và duy trì một lực lượng đặc biệt đông tới 200,000 người. Về mặt này, không thể không nhắc tới một lực lượng TQLC khác ít nổi tiếng hơn nhiều, đó là TQLC Hoàng gia Anh (Royal Marines). TQLC Hoàng gia có quy mô nhỏ, và mức độ tinh nhuệ cao hơn TQLC Mỹ nói chung.

Tuy vậy, bản thân TQLC Mỹ cũng có những đơn vị con rất tinh nhuệ, bao gồm trinh sát đặc nhiệm (Force Recon), lính bắn tỉa, và Lực lượng đặc nhiệm TQLC (MARSOC).

Mặc dù là quân chủng nhỏ nhất trong quân đội Mỹ, các thành viên của TQLC đặc biệt tự hào về lực lượng của mình. Một người sẽ luôn tự coi mình là línhTQLC ngay cả khi đã giải ngũ. Điều này cũng góp phần tạo nên sự nổi tiếng của TQLC trong phim ảnh. Có một số lí do góp phần tạo nên 'thương hiệu' cho TQLC Mỹ như sau:

Thứ nhất, TQLC Mỹ có nguồn gốc lâu đời, từ thời kì chiến tranh giành độc lập của nước Mỹ khỏi Anh quốc, và đã tham gia nhiều cuộc chiến kể từ đó. Tuy vậy TQLC bắt đầu nổi tiếng trong công chúng kể từ trận đánh ở rừng Belleau trong Thế chiến thứ 1, trong đó TQLC chịu tổn thất nặng nề nhưng đã ngăn được đà tấn công của quân đội Đức về phía Paris. Để ghi nhớ công lao này, người Pháp đã đổi tên khu rừng thành "Rừng thuỷ quân lục chiến".

Về mặt chiến lược, trận chiến này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì trước Thế chiến thứ 1, về mặt sức mạnh quân sự, Mỹ vẫn chỉ được xem dưới các cường quốc châu Âu một bậc. Ngay cả khi Mỹ quyết định gửi quân đội trực tiếp tham chiến tại châu Âu, cùng phe Liên minh Anh-Pháp chống lại Đức, giới quân sự châu Âu vẫn còn nghi ngờ quyết tâm và khả năng chiến đấu thật sự của người Mỹ. Trận chiến tại rừng Belleau đã giúp dẹp bỏ sự nghi ngờ đó.

Khác với các quân chủng còn lại, Tổng thống Mỹ có thể ra lệnh cho TQLC tham chiến mà không cần sự cho phép của Quốc Hội trong 1 khoảng thời gian nhất định.

TQLC đặc biệt nổi tiếng nhờ vào Thế chiến thứ 2, từ  những trận đánh khốc liệt với quân đội Thiên hoàng trên các đảo ở Thái Bình Dương như Guadalcanal, Tarawa, Saipan, Peleliu, Iwo Jima hay Okinawa.

Trong Thế chiến thứ 2, mặc dù chính sách chung của chính phủ Mỹ luôn là 'Âu trước, Á sau", nghĩa là ưu tiên đánh bại phát xít Đức trước, nhưng với công chúng Mỹ, mặt trận Thái Bình Dương lại có ý nghĩa quan trọng hơn, do phát xít Nhật bị căm ghét nhiều hơn kể từ sau Trân Châu Cảng. Vì vậy mỗi trận đánh của TQLC tại mặt trận này đều được công chúng đặc biệt quan tâm.

Cũng phải nói thêm rằng sự nổi tiếng này còn có nguyên do từ khả năng PR tốt của TQLC. Trong các trận chiến tại Thái Bình Dương, thực sự số lượng TQLC tham chiến ít hơn các đơn vị của lục quân. Nhưng với đa số công chúng thì hầu như mọi chiến công đều liên quan đến TQLC.

Một khía cạnh nữa tạo nên sức hấp dẫn của TQLC trong công chúng là quân chủng này luôn duy trì được hình ảnh 'nam tính' truyền thống của mình. Tất cả quân nhân thuộc TQLC, cho dù chỉ làm công tác hậu cần, quản lý…đều được huấn luyện như 1 lính bộ binh chiến đấu. Khi tuyển quân, nếu như các quân chủng khác thường tìm cách thu hút tân binh bằng việc giới thiệu các vũ khí tối tân, các lợi ích khi nhập ngũ thì TQLC lại cảnh báo về sự gian khổ sẽ chờ đợi tân binh, và báo trước rằng chỉ có 1 số ít người đủ khả năng tham gia lực lượng này.

TQLC còn tự hào về tính hiệu quả của mình. Cụ thể chỉ với 6-7% ngân sách quốc phòng, TQLC cung cấp đến 20% sức mạnh tác chiến của quân đội Mỹ. Tuy nhiên, điều này một phần là do mọi công tác hậu cần khi tham chiến của TQLC lại do hải quân Mỹ đảm nhiệm nên một phần kinh phí thực cho TQLC nằm trong số ngân sách được phân bổ cho hải quân.

Sức mạnh thương hiệu và sự tồn tại của TQLC

Trên thực tế, sức mạnh 'thương hiệu' rất quan trọng với lực lượng này vì trong suốt lịch sử của mình, TQLC thường đối mặt với nguy cơ bị giải tán hoặc sáp nhập vào các quân chủng lớn hơn.

Ví dụ sau Thế chiến thứ 2, nhiều ý kiến cho rằng TQLC gắn liền với các chiến dịch đổ bộ, nhưng trên thực tế đa số các chiến dịch đổ bộ lớn như ở Bắc Phi, Italia, và Normandy được thực hiện bởi các đơn vị lục quân thông thường. Ngay cả tại chiến trường Thái Bình Dương, số lượng lính lục quân tham chiến cũng đông hơn TQLC.

Khi đó TQLC phản bác rằng đó là do quy mô quân số của TQLC nhỏ hơn nhiều so với lục quân. Ngoài ra, chính TQLC là người đã phát triển các kỹ chiến thuật thiết yếu cho các chiến dịch đổ bộ. Chiến tranh Triều Tiên sau đó bùng nổ đã làm tạm dịu đi các tiếng nói đòi giải tán TQLC.

Thời gian gần đây, việc giải thể TQLC Mỹ lại được nhắc đến. Lí do là vì trong khi TQLC thường được gắn liền với các chiến dịch đổ bộ, thì các tiến bộ trong kỹ thuật quân sự đã làm cho những chiến dịch đổ bộ cổ điển kiểu như Normandy cực kì khó khăn. Sự phổ biến của tên lửa khiến cho việc triển khai các tàu chiến gần bờ lần rất nguy hiểm. Lần cuối cùng một chiến dịch như vậy diễn ra cách đây đã nửa thế kỷ, vào chiến tranh Triều Tiên, khi TQLC đổ bộ tại Inchon và đánh thọc sườn quân đội Bắc Triều Tiên, đánh dấu bước ngoặt của cuộc chiến. Kể từ đó đến nay không còn một cuộc đổ bộ cổ điển nào nữa nữa.

Trong chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ 1, TQLC Mỹ triển khai ngoài khơi Kuwait với vai trò nghi binh, làm Saddam tin rằng Mỹ sẽ thực hiện một chiến dịch đổ bộ lớn vào bờ biển Kuwait. Trong đêm trước khi chiến dịch trên bộ bắt đầu, Force Recon của TQLC và đặc nhiệm SEAL bí mật bơi vào và đặt nhiều khối thuốc nổ trên bờ biển. Những vụ nổ làm phía Iraq lầm tưởng phía Mỹ đang bắn pháo mở đường và càng tin vào kế nghi binh đó. Vì vậy một lực lượng lớn quân Iraq bị trói chặt vào việc phòng thủ nơi không nằm trong hướng tấn công của quân Mỹ.

Trong các cuộc chiến lớn sau đó, bao gồm chiến tranh Vùng Vịnh 2, chiến tranh tại Afghanistan, TQLC cũng tham chiến giống như các đơn vị lục quân thông thường. Do đó, nhiều người cho rằng nên sáp nhập TQLC vào lục quân.

Về phần mình, TQLC lập luận rằng mình vẫn thực hiện các chiến dịch 'đổ bộ', nhưng bằng phương tiện khác, là trực thăng, thay vì các tàu đổ bộ như kiểu cổ điển. Ngoài ra, TQLC cũng phát triển học thuyết mới, phù hợp với tình hình hiện tại, trong đó nêu rõ nhiệm vụ của mình mà 'chiến thắng trong những cuộc chiến nhỏ', những cuộc xung đột không cần thiết phải huy động một lực lượng quân sự hùng hậu mà cần khả năng phản ứng nhanh lẹ.

Có thể thấy trong bất cứ tình huồng nào, TQLC Mỹ luôn có một lợi thế khổng lồ trong việc tồn tại, đó chính là hình ảnh 'thương hiệu' của mình.

'Người hùng Nantz' và Hạ sĩ quan chuyên nghiệp

Một chi tiết trong bộ phim mà với nhiều người có thể là hơi khó hiểu, đó là nhân vật chính Michael Nantz mặc dù đã có kinh nghiệm chinh chiến dày dạn 20 năm, nhưng chỉ đeo lon trung sĩ, thấp đến 7 bậc so với thiếu uý William Martinez, một sĩ quan mới vừa ra trường, và được chỉ định chỉ huy trung đội TQLC trong phim. Trên thực tế Michael là người chịu trách nhiệm lãnh đạo chính nhờ vào kinh nghiệm chiến đấu lâu năm của mình.

Tuy nhiên đây là 1 điều rất bình thường trong quân đội một số nước phương tây. Trên thực tế, đây là một trong những trụ cột quan trọng nhất của sức mạnh quân sự các nước như Mỹ, Anh…mà ít người biến đến, đó là các hạ sĩ quan chuyên nghiệp như trung sĩ Michael Nantz trong phim.

Đối với đa số các quốc gia, chỉ có các cấp sĩ quan chuyên nghiệp (cấp uý trở lên). Chuyên nghiệp ở đây có nghĩa là chọn binh nghiệp là nghề nghiệp chính của mình, gắn bó 1 thời gian dài với nó. Các hạ sĩ quan (hạ, trung, thượng sĩ) cũng giống như binh lính thường, sau 1 thời gian sẽ giải ngũ trở lại cuộc sống dân sự. Những nước này thường có số lượng sĩ quan rất đông.

Nhưng quân đội nhiều nước phương tây có truyền thống phát triển một lực lượng hạ sĩ quan rất đông đảo, trong khi giữ số lượng sĩ quan ở mức thấp, theo đúng như mô hình kim tự tháp (cấp càng cao thì số lượng càng ít). Thường thì những hạ sĩ quan này ban đầu là binh lính, sau một thời gian phục vụ đã chứng tỏ được năng lực và tố chất chỉ huy của mình, nên được thuyết phục đi theo con đường binh nghiệp lâu dài, có thể đến hàng chục năm, nhưng không thăng cấp lên các cấp bậc sĩ quan. Những hạ sĩ quan này đóng vai trò là 'lớp đệm' giữa cấp sĩ quan và binh lính, là người trực tiếp chỉ huy và dẫn dắt binh lính trong chiến đấu, dựa vào kinh nghiệm và uy tín của mình.

Ưu điểm lớn nhất của mô hình này là quân đội có sự được khả năng lãnh đạo và kinh nghiệm ngay cả những cấp thấp nhất. Có nghĩa là ngay cả một tiểu đội, trung đội, một tổ lái xe tăng cũng có được sự dẫn dắt của những người đã có hàng chục năm kinh nghiệm chiến đấu.

Ngoài ra, trong cuộc sống và hoạt động hàng ngày, các hạ sĩ quan chuyên nghiệp này cùng trực tiếp ăn ở, sinh hoạt với binh lính nên đảm bảo tốt kỷ luật, giảm thiểu tình trạng 'ma cũ ma mới' đối với tân binh.

Một ưu điểm nữa của mô hình này là việc một phần trong số các hạ sĩ quan chuyên nghiệp này sẽ đóng vai trò là các chuyên viên kỹ thuật. Số lượng này trong quân đội nói chung càng ngày càng tăng và càng quan trọng do hàm lượng công nghệ kỹ thuật trong quân đội cũng tăng lên nhiều. Nếu không có lượng hạ sĩ quan chuyên nghiệp đông đảo, quân đội sẽ phải sử dụng các sĩ quan cho những vị trí này, gây ra sự lãng phí. Một ví dụ nhỏ là trên các tàu ngầm hạt nhân của LX/Nga, khoảng 50% thuỷ thủ đoàn là sĩ quan, trong khi con số này của tàu ngầm Mỹ chỉ khoảng 10%.

Năm 1988, Tổng tham mưu trưởng Hống quân Liên Xô, Nguyên soái Akhromeyev có chuyến thăm Mỹ. Trong lịch trình bao gồm căn cứ Hood, là căn cứ thiết giáp lớn nhất của Mỹ. Các sĩ quan Mỹ chuẩn bị để trình diễn cho Nguyên soái các thiết bị, vũ khí mới nhất của mình, trong đó có xe tăng M1 Abrams. Nhưng Akhromeyev không quan tâm nhiều đến vũ khí mà lại chủ yếu muốn tìm hiểu về đời sống của các lính tăng bình thường. Ông này rất ngạc nhiên khi gặp những trung sĩ, hạ sĩ có đến gần 20 năm thâm niên, trong lúc đa số lính tăng của LX chỉ có 18 tháng kinh nghiệm.


Hiện nay, Nga vẫn đang cố gắng cải tổ mô hình hiện tại, giảm số lượng sĩ quan và tăng số hạ sĩ quan chuyên nghiệp như mô hình các nước phương tây. Quân đội Nga hiện có 1,2 triệu người, nhưng có đến hơn 300,000 sĩ quan. Chính phủ Nga mong muốn cắt giảm 1 nửa số này. Ngoài ra, số lượng học viện đào tạo sĩ quan cũng sẽ bị cắt giảm từ 60 xuống 10 trường.

30.11.09

Bắc Triều Tiên - Chết vì cua

Ngày 10/11 vừa qua trên vùng biển giữa BTT và HQ đã xảy ra một cuộc đụng độ ngắn giữa các tàu tuần tiễu hải quân 2 nước.

Vào khoảng 11h27, tàu tuần tiễu BTT xâm phạm đường biên phía bắc (NLL), là đường xác định lãnh hải giữa 2 nước. Trước đó, hải quân HQ đã phát đi 3 lời cảnh báo, bắt đầu từ 11h22. Sau khi tàu BTT vượt NLL khoảng hơn 1km thì phía HQ phát tiếp 2 lời cảnh báo nữa. Theo đúng luật giao chiến thì sẽ có tất cả 5 lời cảnh báo, tiếp theo là bắn cảnh cáo, trước khi có thể thật sự giao chiến.

Do đó, đến 11h37, HQ bắt đầu bắn cảnh cáo, nhưng phía BTT phản ứng lại bằng hỏa lực bắn thật. Giao chiến chính thức nổ ra và kéo dài trong khoảng 2 phút. Việc BTT phớt lờ các lời cảnh báo và phản ứng với hỏa lực cảnh cáo như thể đó là hỏa lực giao chiến có thể là do họ đang muốn gây hấn, hoặc cũng có thể là do họ có vấn đề về kỷ luật và huấn luyện, không nắm rõ luật giao chiến, không phân biệt được bắn cảnh cáo và bắn thật.

Kết quả hoàn toàn nghiêng về phía HQ. Phía BTT bắn 50 phát đạn, trong đó 15 trúng đích. Trong khi phía HQ khai hỏa 100 lần và đa số trúng đích. Tàu BTT bốc cháy và bỏ chạy, ít nhất 3 thủy thủ thiệt mạng, một số bị thương. Phía HQ không có thương vong.

Không khó để giải thích cho kết quả trên. Phía HQ sử dụng tàu tuần tiễu loại 150 tấn, trang bị pháo tự động 40mm và 20mm, điều khiển bằng máy tính. Do đó họ có hỏa lực nhanh hơn và chính xác hơn, cho dù khi đó biễn động, với sóng cao 2m và 2 bên cách nhau hơn 3km. Còn phía BTT dùng súng 37mm và 25mm, nạp đạn thủ công và không có máy tính điều khiển hỏa lực. Và tất nhiên cũng không thể không nhắc tới yếu tố hải quân HQ được huấn luyện nhiều hơn.

Tìm cách đẩy NLL về phía nam đã luôn là một trong những mục tiêu chính của BTT trong nhiều năm qua. Một lí do chính là ngư trường đánh bắt cua khổng lồ ở đây. Mỗi năm BTT kiếm được khoảng 100 triệu dollar nhờ vào ngành này, một khoản ngoại tệ không nhỏ cho một nước như BTT. Chỉ những gia đình các sĩ quan quân đội, chủ yếu là hải quân, mới có đặc quyền khai thác số cua béo bở này. BTT cũng tin rằng ở phía nam của NLL còn có dầu mỏ, tuy nhiên không có phát hiện chính thức nào của các mỏ dầu ở đây.

Vào ngày 18/11, tại Thụy Điển, 2 nhân viên ngoại giao BTT bị bắt khi tìm cách tuồn 230,000 điếu thuốc lá từ Nga. Đây không phải là lần đầu. Từ hơn 20 năm nay, giới ngoại giao BTT nổi tiếng vì các hoạt động phi pháp của mình trên khắp thế giới. Do không có đủ kinh phí, các cơ quan ngoại giao buộc phải lựa chọn giữa đói hay làm liều. Hiện nay tình hình thiếu đói ở bên trong BTT vẫn rất căng thẳng, hàng ngàn người có lẽ sẽ không sống sót qua nổi mùa xuân sang năm.

BTT đang kín đáo yêu cầu nhiều tổ chức cứu trợ nhỏ chuyển lương thực cho mình. Lí do là vì các tổ chức cứu trợ lớn càng ngày càng thất vọng với việc lương thực viện trợ không được phân phát công bằng đến mọi dân thường mà thường bị chuyển cho quân đội hay gia đình các quan chức. Ngoài ra, bản thân BTT ngoài mặt thường tuyên bố rằng họ không cần bên ngoài viện trợ.

Trong khi đó, HQ và Mỹ cũng vừa cập nhật lại Kế hoạch tác chiến 5029. Đây là kế hoạch dùng trong trường hợp có sự sụp đổ ở phía bắc. Theo đó, Mỹ có nhiệm vụ chính trong việc đảm bảo vũ khí và công nghệ hạt nhân của BTT không bị thất thoát, còn HQ lo đối phó với dòng người tị nạn hàng triệu người sẽ tràn qua đường phân cách 2 miền, cũng như giải quyết lực lượng quân đội hơn 1 triệu người của BTT khi nó bị tan rã. Ngoài ra 5029 cũng nhằm đối phó với những thiên tai lớn ảnh hưởng đến cả 2 miền. Bản thân Trung Quốc chắc chắn cũng có kế hoạch tác chiến tương tự, nhưng đa số chi tiết được giữ bí mật.

26.10.09

Mỹ - Công nghệ trong Transformer (P.4) - Vũ khí cá nhân

Loại súng trường tự động xuất hiện thường xuyên nhất có lẽ là khẩu M4A1. Là phiên bản thu gọn của khẩu M-16, dòng M4/M4A1 ban đầu được sử dụng trong các đơn vị đặc nhiệm, trước khi được các lực lượng chính quy của lục quân Mỹ sử dụng. M4 có 2 chế độ bắn phát một và 3 phát một. M4A1 thay chế độ bắn loạt 3 viên bằng chế độ tự động hoàn toàn.
Theo xu hướng gần đây, M4A1 cũng có thể được gắn thêm rất nhiều loại thiết bị phụ trợ khác nhau. Trong phim thường gặp là kính ngắm M68, tay cầm gắn dưới ốp lót tay, thiết bị chỉ thị laser AN/PEQ-2 mà đơn vị biệt động của thiếu tá Lennox rất thường sử dụng khi cần hỗ trợ của không lực.
Do cần yếu tố hiệu ứng hình ảnh, trong phim ta có thể thấy rõ luồng laser màu xanh, còn trong thực tế thì AN/PEQ-2 sử dụng tia laser hồng ngoại không thể nhìn thấy bằng mắt thường.
Nhiều khẩu M4A1 trong phim còn được gắn thêm súng phóng lựu 40mm M203, loại này sắp tới sẽ được thay thế bằng M320.
Riêng thiếu tá Lennox (trong phấn 1 vẫn là đại úy) khi ở Qatar lại sử dụng khẩu Colt Model 933 thay vì M4A1 như đa số thuộc cấp của mình. 933 thực chất cũng là M4, nhưng sử dụng nòng ngắn hơn, chỉ 11.5 inch thay vì 14.5 inch. Trong trường đoạn khi mà đội của Lennox bị Scorponok truy sát trên sa mạc, có thể thấy khá rõ khẩu 933 của Lennox được trang bị khá nhiều 'đồ chơi', gồm kính ngắm M68, kính nhìn đêm AN/PVS-17, đèn pin M900, tay cầm, đèn chỉ thị laser AN/PEQ-2, báng súng Vltor clubfoot.
Trong cảnh đầu phần 2, một số lính NEST được trang bị H&K 416, có thể coi là M4 nhưng có cơ cấu hoạt động khác, nhằm tăng độ tin cậy và giảm khả năng súng bị kẹt. 416 cũng được các lực lượng đặc biệt sử dụng, và nhiều ý kiến cho rằng nên thay thế M-16/M-4 bằng HK 416.
Bên cạnh đó, lực lượng Khu vực 7 và NEST còn sử dụng H&K G36K, một số được gắn thêm súng phóng lựu 40mm H&K AG36.
Ngoài ra, còn có G36C được sử dụng rất nhiều lần, bao gồm các đặc vụ FBI khi xông vào nhà của hacker Glen, đặc vụ của Khu vực 7 khi đi bắt các nhân vật chính của phim. G36C cũng được cả đặc vụ Khu vực 7 và lính của Lennox sử dụng trong tình huống đối đầu căng thẳng trong lòng đập Hoover. Ngoài ra, trong cảnh này còn xuất hiện khẩu SIG SG-552.
Trong phim cũng có sử dụng shotgun, chủ yếu trong cảnh giao chiến với Frenzy ở chỉ huy sở Khu vực 7, gồm Mossberg 590, phần lớn đã được 'độ' lại, ví dụ như gắn thêm kính ngắm giao thoa EOTech 552.
Ngoài ra còn có Winchester Model 12.
Về súng máy, trong phim có sự xuất hiện của khẩu 12.7ly Browning M2HB, chủ yếu được gắn trên xe Humvee. Xuất hiện từ những năm 20 của thế kỷ trước, khẩu Browning vẫn tồn tại 1 cách bền bỉ, mặc dù đã có khá nhiều dự tính thay thế nó bằng 1 thiết kế hiện đại hơn. Gần đây nhất là M307, được thiết kế để có thể vừa bắn đạn 12.7mm và đạn thông minh 25mm, theo đó một thiết bị laser sẽ đo khoảng cách tới mục tiêu và người sử dụng có thể tùy chọn thời gian để kích nổ đạn, ví dụ có thể đặt chế độ để viên đạn nổ ngay giữa 1 căn phòng sau khi bay qua cửa sổ. Tuy vậy, M2 vẫn được yêu thích vì sự tin cậy, đơn giản, rẻ tiền (so với đạn thông minh 25mm) và nhịp bắn cao hơn so với M307. Tất nhiên M2 không phải là không có nhược điểm, đó là việc thay nòng súng rất phức tạp và mất thời gian. Phiên bản mới nhất M2-E2 cho phép thao tác này giảm từ vài phút còn vài giây.
Một số lính biệt động của Lennox được trang bị súng máy hạng nhẹ M249, phiên bản dùng cho lính dù. M249 là dòng súng máy hạng nhẹ, dùng đạn cỡ 5.56mm, trang bị ở cấp tiểu đội. Trong phim, súng thường được gắn thêm 1 ống ngắm Leupold CQ/T. Nó xuất hiện chủ yếu ở cảnh khi đội của Lennox bị Skorponok truy sát ở sa mạc.
Súng máy 7.62mm M240G, trang bị trên những chiếc Humvee chống trả Blackout khi nó tấn công vào căn cứ SOCCENT tại Qatar vào đầu phim.
M60 trang bị trên chiếc BlackHawk được phái đến đến nhận khối All Spark ở cuối phần I.
Súng máy 3 nòng Gau-19A trang bị trên 1 số xe của NEST, nhịp bắn 1300 phát/phút.
Về súng ngắn, có thể kể đến khẩu M1911A1, dùng đạn 11.43mm, được đại úy Lennox sử dụng.
SIG-Sauer P226, một loại súng ngắn thường được các lực lượng cảnh sát và an ninh sử dụng vì sự nhỏn gọn. Trong phim nó được sử dụng bởi các mật vụ trên Airforce One và sĩ quan cảnh sát thẩm vấn nhân vật chính. Đây là chi tiết không chính xác của phim vì lực lượng mật vụ không còn sử dụng P226 nữa mà đã chuyển sang P228 và P229.
Beretta 92SF, được sử dụng rộng rãi trong quân đội Mỹ nơi nó có tên là M9. Trong phim nó được sử dụng bởi các lính biệt động của Lennox.
Glock 22, trang bị tiêu chuẩn của FBI, do đó cũng xuất hiện khi các đặc vụ tràn vào nhà của hacker Glen.
Đối với tiểu liên, có loại H&K MP5KA4 được các mật vụ sử dụng để bảo vệ lối vào phòng tổng thống trên Airforce One, như trong ảnh là khi 1 mật vụ thực hiện động tác lên đạn đặc trưng của H&K. Ngoài ra nó còn được mật vụ của Khu vực 7 sử dụng khi bị các Autobot bao vây.
Các mật vụ của khu vực 7 còn được trang bị MP5A3.
Trong trận chiến ở Mission City, một số lính Khu vực 7 còn sử dụng H&K UMP-45.
Hỏa tiễn vác vai M141 SMAW-D được sử dụng trong đợt càn ở Thưởng hải và trong trận chiến cuối phim ở Ai cập. SMAW, tên gốc là B300, được Israel chế tạo, có thể coi như tương đương với RPG của LX, nhưng đắt hơn. Trong trận chiến ở Fallujah năm 2004, SMAW tỏ ra rất hữu ích cho lính thủy đánh bộ Mỹ, chủ yếu là phiên bản dùng đầu đạn xung nhiệt. Nguyên tắc chính của loại chất nổ này là gây sát thương bằng nhiệt độ và sức ép thay vì mảnh đạn. Do đó nó có thể tiêu diệt đối phương ẩn nấp kín trong các không gian hẹp, có vật cản bao quanh, rất thích hợp trong chiến tranh đô thị. Một đầu đạn phát nổ trong 1 căn phòng, nó có thể gây sát thương cho mọi người trong cả căn nhà đó.
Cuối cùng là dành cho 1 loại vũ khí cá nhân có vị trí khá nổi bật trong phim, súng phóng lựu. Rõ ràng là khi phải đối đầu với các robot khổng lồ đến từ hành tinh khác thì các loại đạn của súng bộ binh thông thường khó có thể gây thiệt hại đáng kể, do đó súng phóng lựu được sử dụng khá nhiều và có vai trò rất qun trọng.

Xuất hiện nhiều lần nhất có lẽ là khẩu M32 của hãng Milkor, được cả các đặc vụ Khu vực 7 và lính của Lennox sử dụng để chống trả các Decepticon. Chúng đều được trang bị kính ngắm chuẩn trực OEG cho phép nhắm bắn bằng cả 2 mắt. Khẩu của Lennox được gắn thêm một nguồn phát laser gắn bên cạnh của nòng súng.
M32 là 1 phiên bản mới của dòng MGL, và được trang bị cho thủy quân lục chiến Mỹ. MGL được Milkor, một hãnh ở Nam phi, chế tạo từ những năm 80. Về cơ bản nó là 1 súng phóng lựu 40mm bán tự động, với ổ đạn xoay 6 viên. Những mẫu súng phóng lựu bán tự động như MGL giúp tăng hỏa lực của lính bộ binh lên rất nhiều so với việc chỉ sử dụng súng phóng lựu bắn từng viên một như M203 vì nó cho phép tăng nhịp bắn lên gấp nhiều lần. Tốc độ bắn tối đa lên tới 2 viên/giây, thường là 18 viên/phút. Tầm bắn khoảng 400m, nếu sử dụng loại đạn mới ERLP thì có thể nâng lên 800m.
M32 có thể bắn được hầu như mọi loại đạn cỡ 40x46mm, không chỉ đạn sát thương như đạn mảnh, xuyên thép mà còn đạn chứa hơi cay, pháo sáng, pháo sáng hồng ngoại...

Ngoài ra, các đặc vụ và lính biệt động còn sử dụng súng phóng lựu dùng đạn 37mm của Defense Technologies, gắn thêm báng gấp và kính ngắm laser.
Trong trận chiến ở Mission city, trung sĩ Epps còn sử dụng loại SL6, 37mm, trang bị kính ngắm laser C-More.
Cũng không thể không nhắc đến RT-37, có nguồn gốc như một vũ khí bắn đạn hơi cay, được gắn thêm kính ngắm laser và báng súng giống M4. Được dùng nhiều lần trong giao chiến, đáng nhớ nhất là khi đại úy Lennox dùng nó để tiêu diệt Blackout.
Một điểm có thể nhận thấy qua việc điểm lại các loại vũ khí bộ binh trong phim, đó là nó thể hiện khá rõ một xu hướng chủ đạo gần đây, ít nhất là ở các nước phương tây. Đó là việc vũ khí cá nhân được gắn thêm rất nhiều 'đồ chơi', kính ngắm, ống ngắm, báng súng, tay cầm, ốp lót tay,đèn, đèn chỉ thị laser v.v… có rất nhiều loại để tùy biến trang bị cho súng. Thậm chí đại úy Lennox sử dụng không chỉ 1 mà đến 2 loại kính ngắm cùng gắn trên 1 súng.

Thật sự thì trong vài thập niên qua, hầu như không có bất cứ phát kiến lớn nào liên quan đến cả súng và đạn bộ binh. Chúng vẫn theo những nguyên tắc ra đời từ gần nửa thế kỷ trước. Do đó, cách tốt nhất để tăng hiệu năng của chúng là từ các thiết bị phụ trợ, đặc biệt là các loại kính ngắm. Nó giúp bộ binh ngắm nhanh và dễ dàng hơn so với việc dùng thước ngắm và đầu ruồi trước kia.

Tất nhiên, bản thân người lính vẫn quan trọng hơn vũ khí mà họ đang sử dụng. Trong những năm gần đây, việc ứng dụng công nghệ giả lập, đánh dấu laser…cũng đã giúp cách mạng hóa việc huấn luyện.
Ngay cả các diễn viên khi tham gia những bộ phim hành động như Transformers cũng cần phải trải qua những khóa huấn luyện gắt gao để có thể nhập vai một cách tốt nhất.