4.2.10
2013
18.12.09
Việt Nam có thể trở thành một khách hàng chính của Nga?
Hôm 14/12 vừa qua, tại Tatarstan, chiếc khinh hạm Gepard 3.9 mà Nga đóng cho Việt Nam đã được hạ thủy. Đây là chiếc đầu tiên trong hợp đồng 2 chiếc. Nó sẽ trải qua các cuộc chạy thử trước khi về Việt Nam vào mùa thu năm sau. Giá trị hợp đồng không được công bố chính thức nhưng có lẽ vào khoảng 200 triệu dollar/chiếc. Tàu có lượng choán nước 2100 tấn, dài 102m, gồm 10 khoang riêng biệt. Thủy thủ đoàn 100 người. Tốc độ tối đa 27-28 hải lý/h, tốc độ hành trình 20 hải lý/h. Tầm hoạt động 5000 dặm. Thời gian trên biển 20 ngày. Tàu được trang bị tên lửa diệt hạm Uran-E, pháo 76.2mm AK-176M, hệ thống pháo phòng không Palma. 2 súng 30mm AK-630M, giàn phóng tên lửa chống tàu ngầm RBU-6000, 2 ống phóng ngư lôi cỡ 533mm. Nó có thể chở theo 1 trực thăng Ka-28 hoặc Ka-31.
Những hợp đồng gần đây và trong tương lai có thể đưa Việt Nam trở thành 1 khách hành quan trọng của ngành CNQP Nga, nhất là trong bối cảnh giá trị hợp đồng từ 2 khách hàng lớn nhất là TQ và Ấn độ có thể giảm xuống.
7.12.09
Đánh giá lại tình trạng hợp tác quân sự giữa Nga và TQ hiện nay
Phái đoàn TQ được TT Nga Medvedev tiếp đón, và có 1 cuộc họp kín kéo dài với bộ trưởng BQP Anatoliy Serdyukov và giám đốc Cơ quan hợp tác quân sự liên bang Mikhail Dmitriyev. Ngày 24/11, phái đoàn TQ thăm quan bãi thử nghiệm vũ khí mới Kapustin Yar. Ngày hôm sau là Cuộc họp lần thứ 14 của Ủy ban liên hợp Nga- TQ về hợp tác trong công nghệ quân sự. Theo như người phát ngôn của BQP Nga thì 2 bên đã bày tỏ sự hài lòng với tình hình hợp tác hiện nay.
Tuy nhiên, cả 2 phía cũng đồng thời không mong đợi việc ký kết của bất cứ một hợp đồng mới nào. Điều này cũng dễ hiểu. TQ đã mua hầu như mọi thứ vũ khí có thể từ Nga, và Nga cũng đã bán cho TQ mọi loại vũ khí của mình, chỉ thiếu mỗi vũ khí hạt nhân! Bản thân TQ hiện nay cũng đang tăng cường việc tự sản xuất vũ khí trang bị cho quân đội mình. Những loại vũ khí mà TQ chưa có và đang muốn mua thì lại hoặc trong quá trình nghiên cứu hoặc đang gặp vấn đề ở khâu sản xuất.
Bản hợp đồng lớn gần đây nhất giữa 2 nước được ký cách đây đã 4 năm, từ 2005 tại Sochi. Theo đó Nga sẽ cung cấp vào 2010 cho TQ 34 máy bay vận tải IL-76 và 4 máy bay tiếp liệu trên không IL-78. Tuy vậy, nhà sản xuất của những loại máy bay này, Liên hợp hàng không Chkalov Taskent, Uzbekistan, đã phá sản. Và do đó hợp đồng bị hủy. Vấn đề mua máy bay vận tải phản lực hạng nặng tiếp tục được đặt ra trong chuyến thăm lần này, nhưng phía TQ không đạt được kết quả cụ thể nào.
Tuy vậy, cũng trong thời gian trên, TT Medvedev đã có chuyến thăm Ulyanovsk. Báo giới Nga tập trung vào việc TT đến có liên quan đến 2 vụ nổ liên tục ở Kho vũ khí hải quân số 31 vừa qua. Tuy nhiên, ngay khi đến phi trường, TT Medvedev đi ngay đến nhà máy của công ty liên doanh Aviastar SP, là nơi tiếp quản việc sản xuất IL-76 từ nhà sản xuất cũ đã phá sản. Tại đó, TT đã được nghe trình bày về một dự án máy bay mới IL-476, dựa trên mẫu IL-76. Dự kiến nó sẽ được bắt đầu bay thử nghiệm vào 2011. Như vậy ít nhất thì phía TQ cũng có gì đó để hy vọng.
Một vấn đề lớn nữa là việc bản thân quân đội Nga cũng đang rất cần hiện đại hóa, thay thế số vũ khí đã quá cũ của mình. Và năng lực sản xuất của Nga có thể không đủ để đáp ứng cho cả nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Ví dụ như trong chuyến thăm bãi thử Kapustin Yar, phái đoàn TQ rất ấn tượng với hệ thống phòng không S-400 mới. Tuy nhiên, phía Nga cũng báo trước là TQ chưa thể mua ngay được. Thứ nhất vì họ muốn trang bị trong nước trước. Thứ 2, phía Nga cũng cần giải quyết những thiếu sót của S-400 trước. Theo tướng Zelin, tư lệnh không quân Nga thì những đặc điểm kỹ thuật-chiến thuật của S-400 vẫn chưa hoàn toàn đạt được, và vẫn còn rất nhiếu việc cần làm trước khi đạt được kết quả như mong muốn.
Phái đoàn TQ còn được cho xem nhiều loại vũ khí mới khác, nhưng phía Nga chưa muốn bán chúng. Vấn đề quan tâm lớn của Nga hiện nay là việc TQ liên tục copy công nghệ của họ, không chỉ để sử dụng trong nước mà còn xuất khẩu để cạnh tranh với chính vũ khí của Nga. Trước đây không phải là Nga chưa biết đến điều này, nhưng khi đó họ quá cần tiền nên đành làm ngơ. Nhưng hiện giờ thì họ muốn có những đảm bảo rõ ràng từ phía TQ. Thật ra thì từ năm ngoái Nga và TQ đã ký một hiệp định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm về những lời hứa hẹn tương tự của TQ khi xin gia nhập WTO và tình hình bảo vệ bản quyền thực tế sau đó, rõ ràng không nên kỳ vọng quá nhiều.
18.11.09
Sự tất yếu không mong đợi
Sớm hơn so với dự kiến, TQ đã vượt Hàn quốc để trở thành nước đóng tàu lớn nhất thế giới. Trước đây người ta cho rằng TQ chỉ làm được điều này sau từ 5-10 năm nữa. Trước đó nữa thì Nhật là nước giữ vị trí này, trước khi bị HQ vượt.
Hiện nay TQ đang có các hợp đồng tổng cộng 54.96 triệu CGT, so với 53.63 triệu của HQ. CGT là viết tắt của tổng trọng tải đã bù trừ. 'Đã bù trừ' nghĩa là có tính đến hệ số của độ phức tạp trong thiết kế của con tàu. Ví dụ như 1 tấn tải trọng của 1 con tàu chở hóa chất sẽ tương đương 4 tấn của 1 con tàu chở container thường. Do đó, nếu tính theo tải trọng thông thường thì khoảng cách giữa TQ và HQ còn xa hơn nữa do phần lớn tàu mà TQ đang đóng có thiết kế đơn giản.
Trong những năm vừa qua, TQ đã đầu tư rất nhiều vào ngành công nghiệp đóng tàu với tham vọng từ đó làm nền cho sức mạnh hải quân của mình. TQ đang đi theo con đường giống như của NB và HQ. Cả 2 nước Đông Á này đều là cường quốc hàng đầu về công nghiệp đóng tàu và đã chuyển thành công ưu thế đó sang lĩnh vực quân sự. Họ có khả năng đóng các chiến hạm ngang ngửa với của hải quân Mỹ, thậm chí còn có kích thước lớn hơn.
TQ vẫn đang chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình này, tuy nhiên đang tiến rất nhanh. Có sự khác biệt rất lớn giữa tàu chiến và tàu dân sự, và ngay cả trong lĩnh vực đóng tàu dân sự, TQ vẫn chưa thể so được với NB hay HQ về công nghệ để có thể đóng được các loại tàu phức tạp như tàu chở hóa chất, khí hóa lỏng…Một tàu chở hàng thường có kích thước tương đương tàu sân bay lớp Nimitz của hải quân Mỹ có giá chỉ 130 triệu dollar, so với 4 tỷ của chiếc siêu hàng không mẫu hạm. Mức giá này thậm chí còn thấp hơn chi phí vận hành hàng năm của Nimitz.
TQ có thể chiếm được thị phần nhanh chóng một phần là vì các nhà đóng tàu HQ gặp hạn chế về diện tích đất để mở rộng sản xuất. Do đó họ đang tập trung vào việc phát triển công nghệ.
28.9.09
Mig đáng giá vài xu
Chính xác là khoảng 3.5 cent (hơn 600 đồng), theo như tính toán của các kiểm toán viên được thuê để tính lại giá trị của công ty RSK Mig trước khi nó được cải tổ. Nga hiện nay đã sáp nhập tất cả những công ty công nghệ hàng không quốc doanh (RSK Mig, Sukhoi, Tupolev, Irkut…) vào một tập đoàn lớn là UAC. Và họ không muốn cái 'siêu công ty' này đi theo vết xe đổ của Mig trước kia, năm ngoái hãng này lỗ 363 triệu dollar. Đã có một số quan chức cao cấp của hãng này bị truy tố vì tham nhũng.
2.9.09
Khi người Nga mua tàu Pháp
Cuối cùng thì sau khá nhiều lời đồn đoán, Nga đã chính thức xác nhận việc họ đang đàm phán để mua một chiếc tàu hỗ trợ đổ bộ lớp Mistral, với giá từ 300-400 triệu euro, và sau đó có thể ký tiếp hợp đồng mua quyền đóng 3-4 chiếc cùng loại tại Nga.
Bản thân hải quân hải quân Pháp đã nhận 2 chiếc cùng loại, tên là Mistral và Tonnerre, vào 2006 và 2007. Nói chung họ rất hài lòng với chất lượng của loại tàu mới này. Dài 200m, lượng choán nước 21,500 tấn, Mistral có thể chở theo 450 lính thủy đánh bộ, khoảng 17 máy bay trực thăng, gần 100 xe cơ giới hoặc 60 xe bọc thép. Nó có một bệnh viện với 69 giường. Con tàu có mức độ tự động hóa cao, với thủy thủ đoàn chỉ gồm 180 người. Tàu lớp San Antonio của Mỹ, có chức năng gần giống Mistral, lượng choán nước 25,000 tấn có thủy thủ đoàn gần 400 người. Vũ khí trên tàu chủ yếu để phòng vệ, gồm 2 giàn phóng tên lửa phòng không tầm gần, 2 đại liên 30mm và 4 súng máy hạng nặng. Nếu không được tiếp tế trên biển, nó có thể hoạt động trong 45 ngày.
Những tàu hỗ trợ đổ bộ như chiếc Mistral hiện nay đang có nhu cầu khá cao trên thị trường quốc phòng. Chủ yếu là do tính linh hoạt và hữu dụng của nó trong nhiều loại hoạt động quân sự khác nhau. Chúng nó thể đóng vai trò quan trọng trong chiến tranh quy ước, bất quy ước, gìn giữ hòa bình, cứu trợ thiên tai…Chúng có thể là nơi xuất phát cho các chiến dịch đổ bộ, đồng thời là 1 tàu sân bay cho trực thăng, bệnh viện dã chiến nổi, sở chỉ huy trên biển…Nói chung, loại tàu này là 1 thành tố không thể thiếu đối với 1 lực lượng hải quân viễn dương. Và do đó mà việc quyết định mua Mistral đánh dấu 1 thay đổi lớn trong chiến lược của hải quân Nga.
Có thể nói rằng đế quốc Nga trước kia, LX sau này và bây giờ trở lại là nước Nga đều không có truyền thống mạnh về hải quân, hay ít nhất là không tương xứng với sức mạnh chung của đất nước. Lần cuối cùng người Nga tham gia một trận hải chiến lớn là đã cách đây hơn 1 thế kỷ, khi hạm đội Baltic giao chiến với hạm đội của cường quốc mới nổi Nhật Bản. Kết cục trận chiến là 1 thất bại thảm hại của người Nga.
Sau này ngay cả khi là siêu cường thứ 2 của thế giới, lực lượng hải quân LX vẫn chủ yếu mang tính phòng ngự chứ không phải là 1 lực lượng hải quân viễn chinh, có thể tác chiến và hỗ trợ các chiến dịch viễn chinh lâu dài ở một chiến trường cách xa chính quốc. Ngoại trừ đội tàu ngầm hạt nhân chiến lược, phần còn lại của hải quân LX được xây dựng với mục đích chính là phòng thủ thành công trước hải quân Mỹ trong trường hợp xảy ra chiến tranh. Trọng tâm khi đó là chống tàu ngầm, chủ yếu thông qua trực thăng, và phát triển những tên lửa diệt hạm lớn và tầm hoạt động xa để bù đắp cho việc không có tàu sân bay. Vấn đề phát triển khả năng viễn chinh rất ít được quan tâm, bản thân lực lượng lính thủy đánh bộ cũng có quy mô nhỏ, hoàn toàn phụ thuộc vào hải quân chứ không phải 1 quân chủng độc lập.
Song hiện nay, Nga đang cải tổ lại quân đội với học thuyết mới, với mục tiêu để không chỉ là 1 cường quốc lục địa. Theo đó, lục quân được cắt giảm, và tăng cường khả năng viễn chinh của quân đội. Những khu vực mà Nga đang muốn nhắm tới với tư cách như một cường quốc viễn dương là khu vực biển Đen, đông địa trung hải, bờ biển châu phi. Trên thực tế thì từ sau khi LX sụp đổ, tàu chiến Nga dành phần lớn thời gian neo ở cảng thay vì ra biển vì thiếu kinh phí, hầu như chỉ có lực lượng tàu ngầm chiến lược là còn có thể duy trì sự hoạt động thường xuyên, nhưng cũng ở quy mô giảm đi nhiều so với chiến tranh lạnh. Năm 2000, sau khi lên nắm quyền, một trong những việc làm đầu tiên của TT Putin là yêu cầu hải quân chuẩn bị cho đợt triển khai lớn đầu tiên từ sau 1991 đến khu vực địa trung hải. Không may là vụ tai nạn Kursk diễn ra ngay giữa quá trình chuẩn bị đó và hải quân Nga gần như phải dồn hết tâm trí cho thảm kịch này. Tiếp đến là vụ chiếc tuần dương hạm hạt nhân Pie Đại đế khi đang tập trận phải cấp tốc quay về cảng vì một hỏng hóc nào đó mà theo lời 1 đô đốc sau này thuật lại là đã có thể khiến nó nổ tung.
Những rắc rối khác lại xảy đến, lần này mang tên Bulava, rồi vụ tai nạn tàu ngầm mini, vụ tai nạn trong quá trình chạy thử của 1 chiếc Akula. Trên thực tế thì mặc dù gần 1 nửa ngân sách quốc phòng là dành cho hải quân thì đa số chúng vẫn được dùng cho lực lượng chiến lược (mang vũ khí hạt nhân) như việc phát triển loại tàu ngầm hạt nhân và tên lửa chiến lược mới. Hải quân Nga có vài lần triển khai tập trận ở vùng biển xa, nhưng cũng chỉ trong vài ngày, mang nhiều tính PR hơn là thực tế.
Cuộc chiến với Gruzia năm ngoái đã một lần nữa đặt ra yêu cầu hiện đại hóa lực lượng hải quân quy ước. Những chiếc Mistral mới cũng được dự đoán là nhằm chủ yếu triển khai ở khu vực biễn đen, là nơi sát sườn với nước Nga. Việc phát triển khả năng đột kích từ biển vào là rất quan trọng nếu như một cuộc chiến tương tự như cuộc chiến của Gruzia lại xảy ra, một phần vì địa hình ở khu vực đó rất hiểm trở.
Tuy nhiên, khi đứng trước yêu cầu đó, người Nga phải đối diện với 1 vấn đề nan giải. Đó là tình trạng cực kỳ bi đát của ngành công nghiệp đóng tàu hiện nay. Một thời gian dài hầu như không có việc gì để làm đã khiến cho ngành này chảy máu chất xám nghiêm trọng, công nghệ, phương pháp quản lý lạc hậu, không được cập nhật. Chưa kể là sau khi LX sụp đổ, Nga mất nhiều nhà máy ở các nước nay đã trở thành độc lập, chủ yếu là Ukraina, họ phải xây dựng lại những cơ sở tương tự với chi phí cao. Đó là lí do vì sao mà chiếc đầu tiên trong lớp tàu ngầm mới Borei có giá tới 2 tỷ dollar, tương đương với đơn giá của Mỹ, một điều hiếm khi xảy ra. Biểu hiện rõ ràng nhất của tình trạng bi đát này có lẽ không gì khác vụ scandal liên quan đến hợp đồng đại tu và bán lại tàu sân bay cho Ấn độ. Khi giám đốc một nhà máy đóng tàu tuyên bố rằng nhờ vào một hợp đồng mua tàu của Việt Nam mà công nhân nhà máy có việc làm thì đó không hẳn chỉ là những lời lẽ ngoại giao.
Trong tình trạng đó, người Nga không còn cách nào khác là phải đi mua lại của phương tây. Thật ra thì việc Nga, LX trước kia sử dụng công nghệ phương tây không phải là điều gì quá mới mẻ. Không chỉ dưới thời Sa hoàng, mà thậm chí là trong thời kì Stalin nắm quyền, đặc biệt là trong những năm 1930, Nga là 1 khách hàng thường xuyên của các nhà sản xuất vũ khí phương tây. Sau chiến tranh thế giới thứ 2 và trong thời kì chiến tranh lạnh, việc mua bán giảm đi nhiều, nhưng không phải là không có. Ví dụ như chính Pháp cũng đã cung cấp các thiết bị cảm biến nhiệt dùng trên những thế hệ tăng mới nhất của Nga. Ngoài ra, vũ khí Nga khi xuất khẩu, đặc biệt là máy bay, luôn có các tùy chọn (options) cho khách hàng để sử dụng các linh kiện, phụ kiện phương tây, đặc biệt là các thiết bị điện tử, thay cho thiết bị gốc của Nga. Tuy vậy, một hợp đồng lớn với cả một hệ thống vũ khí như vậy (1 con tàu hơn 2 vạn tấn) là chưa từng có tiền lệ, và rõ ràng thu hút rất nhiều sự chú ý. Nó chứng tỏ quyết tâm hiện đại hóa rất mạnh của quân đội Nga khi vượt qua vấn đề tự tôn của mình.
Thật ra nếu theo đúng như dự kiến thì người Nga cũng sẽ có rất nhiều lợi ích từ hợp đồng này. Vì theo đó những chiếc Mistral tiếp theo sẽ được cung cấp bản quyền để chế tạo ngay tại Nga. Đó sẽ là một cú hích rất lớn cho ngành đóng tàu Nga. Trong nhiều thập niên qua, chưa từng có con tàu nào lớn như vậy được chế tạo tại 1 nơi bên ngoài Mỹ hay châu Âu. Nga có thể tận dụng kinh nghiệm, công nghệ, cách quản lý mới nhất từ người Pháp.
Tuy vậy, đó vẫn ở thì tương lai khá xa, còn hiện tại, nó cho thấy một lần nữa thực trạng không lấy gì làm sáng sủa của ngành đóng tàu quốc phòng Nga, và liệu rằng việc phát triển hải quân dựa hoàn toàn vào các sản phẩm từ nền đóng tàu đó liệu có phải là 1 giải pháp tốt?
31.7.09
Nga đặt ưu tiên cho ngân sách quốc phòng
Theo đó, trong năm 2010, sẽ có 7 mục tiêu ưu tiên. Cao nhất vẫn là ưu tiên quen thuộc: phát triển lực lượng hạt nhân chiến lược. Ngoài ra, còn có chương trình không gian và phòng thủ tên lửa, mua sắm vũ khí và trang bị mới cho lực lượng thông thường, và sửa chữa thiết bị cũ.
Ưu tiên thứ 5 là việc thực hiện những hợp đồng dài hạn của bộ quốc phòng và các cơ quan an ninh khác đối với các hệ thống vũ khí tiên tiến. Hai ưu tiên cuối cùng phản ánh cuộc chiến với Gruzia năm ngoái, bao gồm việc tăng cường lực lượng ở phía nam và hạm đội biển đen cùng với việc mua thêm máy bay chiến đấu. Mục tiêu cuối cùng bao gồm việc đặt hàng 60 Su-27/Su-35 giao vào 2015.
19.5.09
Tích tiểu thành đại
Chỉ vài ngày sau khi một hợp đồng mua 12 chiếc Su-30MK2 của Việt nam được công bố, giá mỗi chiếc khoảng hơn 40 triệu dollar, con số này được giảm xuống còn 8 chiếc vì lí do khó khăn kinh tế. Tuy vậy, điều này cũng không có ý nghĩa nhiều lắm vì đằng nào VN cũng khó có thể cùng lúc mua 12 chiếc máy bay với tổng giá trị nửa tỷ dollar mà sẽ chia làm nhiều đợt.
Hợp đồng này sẽ nâng cao đáng kể khả năng phòng thủ trên biển của VN vì phiên bản này của Su-30 có các hệ thống điện tử chuyên dùng cho tên lửa diệt hạm. Su-30 là phiên bản nâng cao phát triển lên từ Su-27, là loại máy bay mà VN đã sử dụng trong gần 1 thập niên nay. Ngoài ra, VN cũng đang sử dụng (Su-30MKK) Su-30MK2V. Là một trong những loại chiến đấu cơ cường kích hiện đại nhất thế giới hiện nay, sự bổ sung của Su-30MK2 là một bước đi cần thiết trong việc nâng cấp sức mạnh quân sự của Việt nam.
Tuy vậy, một lần nữa phải nhấn mạnh rằng con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Không phải việc VN mua được bao nhiêu máy bay mới, mà chính là số giờ bay trung bình hàng năm của các phi công sẽ cho thấy sức mạnh thật sự của không quân. Bên cạnh đó, một chiếc máy bay dù hiện đại đến đâu, nhưng nếu tỷ lệ sẵn sàng thấp, nghĩa là đa số thời gian nó phải nằm 'đắp chiếu', hoặc thiếu vũ khí, trang thiết bị kèm theo thì cũng không có tác dụng. Vũ khí càng hiện đại thì việc duy tu, bảo dưỡng càng phức tạp và tốn kém. Nhất là khi mà đó là máy bay của Su, không phải Mig.
Trước kia, Mig gần như đồng nghĩa với phi cơ Liên xô. Những chiếc Mig được thiết kế với triết lý là chế tạo những mẫu máy bay giá rẻ, sử dụng cho những lực lượng không quân có trình độ phi công không quá cao, vì phương thức tác chiến trên không của LX và đồng minh dựa rất nhiều vào sự chỉ huy từ đài điều khiển mặt đất. Điều này có nghĩa là máy bay không cần có độ tin cậu quá cao, vì nó sẽ ít được dùng trong huấn luyện. Ví dụ như Mig-29 chỉ được thiết kế với mức 100 giờ bay mỗi năm. Ngoài ra, Mig cũng không yêu cầu quá cao về vấn đề bảo dưỡng, duy tu. Hình ảnh những chiếc Mig phơi sương gió tại những sân bay dã chiến đã rất quen thuộc. Trong khi đó, Sukhoi, với Su-27, đã chuyển sang triết lý khác, họ thiết kế những máy bay với ý nghĩ trong đầu rằng nó sẽ được dành cho những phi công hạng nhất, đồng thời nó cũng đòi hỏi cao về vấn đề hậu cần, duy trì. Do đó, ít máy bay hơn nhưng phi công được huấn luyện tốt hơn, thực hiện việc bảo trì đầy đủ và sẵn sàng chiến đấu cao thì vẫn tốt hơn.
Cỗ máy chiến tranh vận hành như một hệ thống hoàn chỉnh, không đơn giản là vũ khí X vs. vũ khí Y. Do đó, không chỉ những loại vũ khí trực tiếp tham chiến (chiến đấu cơ, chiến hạm…) mà các loại khí tài hỗ trợ khác cũng đóng vai trò quyết định. Trước đó, VN đã mua 4 hệ thống radar thụ động Kolchuga của Ukraina. Mỗi hệ thống gồm 3 cảm biến, cho phép thực hiện phép đo tam giác để xác định vị trí mục tiêu, cả trên không và trên biển, tối đa 32 mục tiêu. Ngoài ra còn có 3 máy bay tuần tra và thám sát hàng hải CASA C212 của TBN với radar của Thụy điển, 10 máy bay huấn luyện Yak-52, 4 máy bay huấn luyện L-39 đã qua sử dụng.
Ngoài việc đầu tư một cách khá toàn diện thì những hợp đồng trên còn cho thấy sự đa dạng hóa trong nguồn cung. Khi nói đến vũ khí, thì không phải lúc nào cũng chỉ là những cái tên như Nga, Mỹ, Anh…mà còn rất nhiều những nước khác cũng xuất khẩu vũ khí. Mỗi nước đều có những 'đặc sản', thế mạnh riêng của mình. Đôi khi những nước không được nổi tiếng lắm lại ít bị những ràng buộc và toan tính chính trị trong vấn đề mua bán vũ khí. Ngoài ra, dùng thiết bị của nhiều nước trong cùng 1 hệ thống vũ khí cũng là một xu hướng phổ biến. Ngay cả Nga khi chào bán máy bay của mình cũng thường đi kèm option trang bị thiết bị điện tử của phương tây cho dễ bán hơn.
Do đó, việc tăng cường sức mạnh quốc phòng với điều kiện ngân sách hạn chế tuy khó, nhưng không phải là không thể, quan trọng là có một chiến lược, kế hoạch đúng đắn.
16.5.09
Khách sộp
Năm nay có vẻ sẽ là một năm rất thành công của ngành công nghiệp quốc phòng Nga, nếu như những phỏng đoán về một loạt hợp đồng quân sự với Algieri là sự thật. Giá trị của số hợp đồng này có thể lên đến 7.5 tỷ dollar. Để so sánh, tổng giá trị xuất khẩu vũ khí của Nga trong 2 năm 2004, 2005 chỉ khoảng 8-10 tỷ dollar. Theo lời một quan chức Nga thì số hợp đồng này bao gồm hầu như mọi loại vũ khí mà Nga xuất khẩu. Một trong những động lực khiến Algieri chịu chi như vậy, mặc dù trước đó họ đã trả lại 28 chiếc Mig-29 vì lí do chất lượng, là việc Nga sẽ đầu tư phát triển tiềm năng dầu khí của nước này.
10.4.09
Shopping UAV
Searcher II
I-viewBird-eye 400 là một UAV loại nhỏ, nặng 3kg, thời gian hoạt động 80 phút, độ cao tối đa 300m, khoảng cách tối đa với người điều khiển 15km. I-view nặng 180kg, thời gian hoạt động 7h, độ cao và khoảng cách tối đa là 6km và 150km. Tải trọng tối đa 15kg. Nó có thể cất cánh từ sân bay hoặc từ máy phóng gắn trên xe tải. Khi đáp xuống, nếu không có đường băng, nó có thể hạ cánh bằng dù. Search 2 nặng nửa tấn, hoạt động tối đa 20h, độ cao 8km, khoảng cách 300km. Tải trọng 88kg.
Nga đã chế tạo UAV từ nhiều năm nay, nhưng chưa đạt đến mức công nghệ như của Israel hay Mỹ, do đó hợp đồng 50 triệu dollar này được trông đợi sẽ giúp các kỹ sư của họ có nhiều kinh nghiệm hơn.
6.4.09
Giờ phán quyết
F-22: có thể ngừng chương trình ở mức 183 chiếc, hoặc thêm 20 chiếc. Khả năng thứ 2 là lớn hơn.
F-35: gần như không cắt giảm ngân sách, thậm chí có thể là tăng tốc chương trình.
Hệ thống tác chiến tương lai (FCS) của lục quân, một chương trình tham vọng chế tạo 8 loại xe cơ giới mới gọn nhẹ và tự động hơn, cùng với việc tăng cường khả năng nối mạng giữa các đơn vị với nhau: chắc chắn sẽ có cắt giảm.
Máy bay tiếp nhiên liệu: Ban đầu liên danh Airbus - Lockheed Martin trúng thầu dự án hàng trăm tỷ dollar này. Nhưng do Boeing phản đối quyết liệt, hiện đang có khả năng cả 2 nhà thầu cùng tham gia.
Tàu sân bay: có thể giảm xuống 10 chiếc. Chiếc Enterprise, 'siêu hàng không mẫu hạm' đầu tiên, sắp tới hạn thay nhiên liệu, có thể tốn cả tỷ dollar. Thay vào đó, nó có thể được cho nghỉ hưu.
DDG-1000, dự án tàu khu trục tàng hình, trang bị những công nghệ cực kỳ tiên tiến, bao gồm cả vũ khí năng lượng (laser, pháo điện từ), nhưng do Hải quân đang có ưu tiên cao hơn cho hệ thống phòng thủ tên lửa, nên nó có thể bị hy sinh.
LCS, loại tàu chiến mới được thiết kế riêng cho tác chiến ở vùng duyên hải gần bờ: gần như sẽ có thay đổi. Hiện đang có 2 mẫu cạnh tranh nhau: loại thân đơn và 3 thân.
Phòng thủ tên lửa: sau vụ thử của Bắc Hàn, hệ thống này có thêm hy vọng sẽ không bị cắt giảm quá nhiều.
Cập nhật
Theo Bộ trưởng Gates, 3 mục tiêu chiến lược của lần cải tổ ngân sách (trong năm tài khóa 2010) này sẽ là:
Tiếp tục hỗ trợ lực lượng vũ trang chuyên nghiệp (hoàn toàn tình nguyện).
Cân bằng ngân sách
Cải tổ mạnh mẽ cách thức các hợp đồng quốc phòng được thực hiện.
Cụ thể:
Tiếp tục việc tăng quân số lục quân và thủy quân lục chiến, ngừng quá trình cắt giảm nhân sự của hải quân và không quân. Tiếp tục tăng ngân sách cho các chương trình chăm sóc sức khỏe, nhà ở cho quân nhân và gia đình.
Tăng khả năng thu thập thông tin tình báo, trinh sát, thám sát. Lực lượng UAV tăng thêm.
Thêm nửa tỷ dollar để tăng cường lực lượng trực thăng. Tăng ngân sách cho việc hợp tác quốc tế.
Tiếp tục chương trình LCS, cam kết tổng số 55 chiếc. Giảm số lực đoàn lục quân từ 48 xuống 45.
F-22 chỉ tăng 4 chiếc, từ 183 lên 187. Chương trình F-35 không thay đổi, với tổng số hơn 2400 chiếc. Thêm 31 chiếc F-18E/F.
Về chương trình phòng thủ tên lửa, các hệ thống THAAD, SM-3, PAC-3 vẫn sẽ tiếp tục tăng thêm. Thêm 6 tàu chiến được trang bị Aegis.
Tăng cường khả năng phòng thủ trong không gian điều khiển (cyber space) với 250 sinh viên mới/năm.
Số tàu sân bay sẽ giảm xuống 10 chiếc sau 2014. Hoãn chương trình tuần dương hạm CG-X. Hoàn tất việc sản xuất máy bay vận tải hạng nặng C-17 với 205 chiếc.
Bắt đầu việc thay thế tàu ngầm chiến lược Ohio. Hoãn việc ra quyết định về chương trình NGB. Trong đóng tối đa 3 chiếc DDG-1000, tái khởi động việc sản xuất DDG-51.
FCS: giữ lại các chương trình liên quan đến công nghệ kết nối. Nhưng hủy các chương trình xe cơ giới và thiết giáp mới.
Các con số trên áp dụng trong năm tài khóa 2010.
22.3.09
Sản xuất hàng loạt V-22


BQP Mỹ vừa đặt mua thêm 172 máy bay chong chóng xoay V-22. Trong số đó, 141 cho thủy quân lục chiến, 31 cho Bộ chỉ huy các chiến dịch đặc biệt (SOCOM).
Phiên bản cho TQLC, MV-22, có thể chở 24 lính với tầm hoạt động 700km với tốc độ 400km/h. Ngoài ra, nó còn có thể tải theo 5 tấn hàng treo dưới thân đi xa 135km. Phiên bản cho SOCOM, CV-22, được trang bị rất nhiều thiết bị điện tử để có thể đột nhập sâu vào lãnh thổ đối phương, ví dụ như radar quét địa hình cho phép máy bay bay rất thấp, các thiết bị cảnh báo, gây nhiễu v.v…Ngoài ra, dung tích nhiên liệu của nó lớn hơn MV-22 khoảng 3500 lít, nâng tầm hoạt động lên 1000km.
SOCOM đang thử nghiệm việc vũ trang cho V-22 bằng việc trang bị một súng máy GAU-2B gắn dưới bụng máy bay. Nó là một súng máy 6 nòng cỡ 7.62mm (cùng cỡ nòng AK) và được điều khiển từ xa. Nhịp bắn là 3000 viên một phút, tầm bắn 1500m. Một nhân viên phi hành đoàn sẽ điều khiển nó bằng một trình điều khiển giống trò chơi điện tử. Ban đầu người ta dự định trang bị 1 súng máy nòng đơn 12.7mm, có tầm bắn xa hơn. Nhưng từ thực tế, người ta cho rằng nhịp bắn cao của súng máy đa nòng có ích hơn.
8.12.08
Rắc rối của Mig
Nhưng còn có thể có lí do là việc Algeri muốn quay sang mua máy bay Rafale của Pháp, là loại hiện đại hơn. Dù sao thì hành động này càng làm suy yếu thêm Mig, vốn trong những năm qua trở nên lép vế trước đồng hương Sukhoi.



