Showing posts with label Câu chuyện lịch sử. Show all posts
Showing posts with label Câu chuyện lịch sử. Show all posts

28.2.10

Alamo (23/2/1836 - 6/3/1836)

Santa Anna từng là một sĩ quan trong quân đội Tây Ban Nha khi một sĩ quan khác, Iturbide, tham gia phiến quân, những người đã chống lại người TBN trong hơn 20 năm ở Mexico. Santa Anna đi theo Iturbide. Sau khi hoàn toàn đánh bại quân TBN, Iturbide tự xưng là hoàng đế của Mexico và phần lãnh thổ mà sau này là toàn bộ vùng Trung Mỹ. Santa Anna là 1 người mà tham vọng được thể hiện qua một câu nói của chính ông: "Nếu tôi được trở thành Chúa, tôi sẽ ước gì mình có thể trở nên hơn thế nữa". Santa Anna đảo chính lật đổ Iturbide. Mexico đi theo thể chế cộng hòa, trở thành 1 nước liên bang như người láng giềng Mỹ, các bang có quyền tự trị rộng rãi. Nhưng tại thủ đô, tình hình chính trị rất bất ổn định, cá lớn nuốt cá bé. 

TBN coi đó là cơ hội để mình lấy lại vùng cựu thuộc địa quý giá này, mà họ gọi là "Tân TBN". Tuy nhiên, Santa Anna đã lãnh đạo quân đội Mexico đánh bại cựu mẫu quốc tại Tampico. Trở về trong chiến thắng, Santa Anna tự phong là tổng thống, và trong suốt 30 năm sau đó, là thế lực chính trị lớn nhất ở Mexico mặc dù không phải là tuyệt đối. Được bầu làm tổng thống 11 lần, và cũng bị phế truất 11 lần.. Có lần, trên đường trốn chạy, Santa Anna bị một bộ lạc da đỏ ăn thịt người bắt. May mắn là đối thủ tìm thấy ông trước khi người da đỏ kịp chuẩn bị bữa tối.

Từ chỗ là một người theo tư tưởng tự do, Santa Anna dần trở thành một độc tài. Điều này khiến một số bang ở phía bắc không hài lòng, trong đó có Texas. Cho đến khi đó, Texas là 1 phần của Mexico, mặc dù đa số dân cư là người da trắng nói tiếng Anh. Sự bất mãn lên đến đỉnh điểm khi Stephen Austin, nhà lãnh đạo có uy tín nhất Texas bị bắt giam. Cách mạng nổ ra ở Texas. Santa Anna cử anh rể là tướng Martin Perfecto de Cos đi dẹp loạn.

Trước đó, Santa Anna đã cho thiết lập một tiền đồn ở Anahuac để thị uy với người Texas. Đại tá William Barret Travis thu thập một đội 25 người và một đại bác hành quân đến Anahuac. Sau một phát đại bác, viên chỉ huy và 44 lính chỉ huy đầu hàng.

Tại chỉ huy sở ở San Antonio, de Cos nhận được tin rằng quân Texas còn có 1 khẩu pháo nữa ở Gonzales. 100 kỵ binh được phái đến để chiếm nó. Khi đến nơi, họ thấy chung quanh khẩu pháo là 160 lính Texas trang bị súng trường. Một bảng chữ treo trên khẩu pháo ghi rằng: "Có giỏi thì đến mà lấy". Phía Texas nhồi sắt vụn và dây xích vào đại bác và khai hỏa. Kỵ binh Mexico khẩn trương di chuyển về lại San Antonio. 

Đến lúc này, dân quân từ khắp Texas đổ về Gonzales. Ngoài ra còn có rất nhiều quân tình nguyện từ các bang của Mỹ. Đại tá Benjamin Miliam lấy ra 300 quân và tấn công San Antonio. Sau 5 ngày, de Cos và 1400 quân của mình đầu hàng và được thả về với điều kiện phải hứa không được quay lại. 

Người Texas nghĩ rằng chiến tranh đã kết thúc, nên họ chỉ để lại 1 nhóm nhỏ ở lại canh giữ San Antonio. Nhóm này đóng quân tại Alamo, nơi trước kia là một khu nhà ở của các nhà truyền giáo. Chỉ huy nơi đây là đại tá Travis. Tổng cộng có 182 người phòng thủ nơi đây, bao gồm nhiều lính tình nguyện từ Mỹ. Nổi bật trong đó là đại tá James Bowie và đại tá Davy Crockett. Cả 2 tiêu biểu cho những người khẩn hoang của nước Mỹ trong những năm đầu thành lập. Những người có máu phiên lưu, ga dạ và tháo vát. 

Crockett từng phục vụ dưới trướng của tướng Andrew Jackson, người sau này là tổng thống thứ 7 của Mỹ. Sau này ông trở thành nghị sĩ của nghị viện bang Tennessee, và 2 lần được bầu vào hạ viện Mỹ. Bowie trong thời gian ở Alamo bị lao phổi và gần như đang hấp hối, nhưng vẫn được mọi người nể trọng và là đồng chỉ huy với Travis. 

Người Texas tin rằng Santa Anna nếu muốn phản công cũng phải đợi đến mùa xuân. Nhưng ông vẫn quyết tâm hành quân qua vùng đồi núi và bình nguyên trung Mexico dưới mùa đông giá lạnh và bỏ lại doc đường không ít người và ngựa. Santa Anna đến San Antonio vào 23/2/1836. Gần 5000 quân Mexico bao vây 182 quân Texas tại Alamo, một nơi không được xây dựng để phòng thủ. 

Khi Bowie hỏi về điều kiện đầu hàng, Santa Anna tuyên bố chỉ có đầu hàng vô điều kiện. Trước đó, một bang khác là Zacatecas cũng có cách mạng, và những người chống đối sau khi đầu hàng vô điều kiện đều bị hành hình. Tuy vậy, Santa Anna vẫn cho rằng Alamo sẽ nhanh chóng đầu hàng, ngay cả sau khi ông cho kéo lên lá cờ màu đỏ tươi vào sáng sớm ngày mở màn cuộc tấn công. Lá cờ có nghĩa là sẽ không có khoan dung cho kẻ thua cuộc. 

4 hàng quân Mexico tiến lên, luồn lách qua các chiến hào quanh Alamo và áp sát bờ tường bao quanh. Quân Texas bắn trả với đại bác và súng trường nòng dài Kentucky. Mỗi người có bên mình 3,4 khẩu súng được nạp sẵn để họ có thể bắn liên tục. Súng hỏa mai nòng trơn của quân Mexico không thể so với tầm bắn và độ chính xác những khẩu súng trường của phía Texas. Lính Mexico thiệt hại nặng. Trong một loại pháo của phía Texas, một nửa đại đội kỵ binh từ Toluca bị loại khỏi vòng chiến. 

Đại úy Mexico Rafael Soldana đặc biệt chú ý đến 1 người: "Anh ta là một người cao lớn với mái tóc dài, mặc một áo khoác bằng da hoẵng hoàn toàn khác với những người còn lại. Và khi anh ta giương súng lên thì chúng tôi biết rằng nên tìm cách tránh xa. Anh ta hiếm khi bắn trượt, và sau mỗi loạt bắn, anh ta luôn bình thản đứng dậy nạp đạn, không để ý đến loạt đạn nhằm bắn về phía mình. Sau này tôi biết rằng người đó là Crockett".

Càng ngày Santa Anna càng mất kiên nhẫn, cuối cùng ông yêu cầu một cuộc tổng tiến công. Vào ngày 6/3, cuộc tấn công băt đầu với sự tham gia của tướng de Cos, người trước đó đã hứa sẽ không quay lại Texas. Cos tập trung dồn lực lượng đột kích vào một dãy cọc hàng rào che chắn khoảng trống trên 1 đoạn tường. Binh lính ào lên nhưng không thể trèo qua, những người hàng sau đẩy tới, đè hàng trước vào hàng rào. Một đại tá bị chính quân lính của mình dẫm đạp đến chết. 

Lính Mexico bắt đầu di chuyển ép sát dọc bức tường cho tới khi họ tìm được một điểm yếu và tràn vào trong. Một viên đạn vào giữa trán hạ gục đại tá Travis ngay lập tức. Những người còn lại dồn vào các ngôi nhà và cố thủ ở đó. Lính Mexico chiếm những khẩu pháo và quay lại bắn vào các ngôi nhà trước khi tràn vào. Đại tá Bowie, mặc dù nằm liệt giường, vẫn chiến đấu tới cùng bằng khẩu súng lục của mình. Lính Mexico ập tức, dùng lưỡi lê xiên vào người Bowie và cứ thế nâng ông lên, giữ cho tới khi máu chảy hết ra ngoài. Trong cơn điên cuồng, lính Mexico đâm chém bất cứ ai tìm thấy, kể cả đồng đội. Các sĩ quan rất khó khăn mới cứu được một số phụ nữ và trẻ em. 

7 người Texas bị bắt sống, gồm Crockett. Santa Anna yêu cầu xử tử tất cả. Các sĩ quan bất bình và bất tuân mệnh lệnh. Nhưng một số người trong đội vệ sĩ của Santa Anna, những người không tham gia đánh trận, đã thi hành mệnh lệnh. Tổng cộng phía Mexico mất khoảng 600 người. Tất cả 182 người Texas đều bị giết. 

Sau đó, 1,400 quân Mexico tấn công một cứ điểm nữa ở Goliad, nơi có 400 quân Texas. Sau 2 ngày, phía Texas đồng ý đầu hàng với điều kiện được phóng thích về Mỹ. Nhưng sau đó Santa Anna ra lệnh hành hình tất cả. Chỉ một số ít may mắn trốn thoát. Cùng với Alamo, Goliad là giọt nước tràn lý khiến người Texas vô cùng căm phẫn và thề trả thù.

George S.Patton, tướng chỉ huy thiết giáp nổi tiếng của Mỹ thời thế chiến thứ 2 đã từng nói "các cứ điểm phòng thủ là tượng đài cho sự ngu xuẩn của con người". Sam Houston, chỉ huy quân Texas lúc bấy giờ, cũng đã rút ra được bài học từ Alamo và Goliad. Ông chủ động rút quân, tránh giao tranh với Santa Anna và liên tục di chuyển, đồng thời thực hiện chính sách tiêu thổ. Santa Anna phải liên tục cắt cử binh lính canh gác các cứ điểm mới, bảo vệ các tuyến giao thông và chuyên chở hậu cần. Tuy vậy, Santa Anna tin rằng phía Texas đang khiếp sợ và bỏ chạy.

Ngày 20/4/1836, Santa Anna tin rằng mình đã dồn được quân Texas  vào một khu vực dọc bờ sông San Jacinto. Có trong tay gầm 1300 quân. Santa Anna tự tin đến mức cho phép binh lính hạ trại ngủ trưa và không cắt cử người canh gác. 

Đến 3.30 chiều, Sam Houston cùng 800 quân của mình và 2 khẩu đại bác bí mất áp sát doanh trại quân Mexico và tấn công. Hô vang "Trả thù cho Alamo", quân Texas ào lên với khí thế vỡ bờ, quân Mexico bỏ chạy tán loạn. Trước đó, Houston đã cho đốt cây cầu duy nhất trên đường rút đi, khiến cho quân Mexico chỉ còn cách nhảy xuống sông. Quân Texas xếp hàng trên bờ sông và bắn quân Mexico như bắn vịt. Khi đại tá John Wharton tìm cách ngăn vụ tàn sát này lại, một người lính nói với ông rằng: "Thưa đại tá, nếu bây giờ Jesus có giáng trần và bảo tôi ngừng tay thì tôi cũng không làm". 

Santa Anna bị bắt 2 ngày sau đó, ông không bị giết vì người Texas cần 1 thứ còn quan trọng hơn mạng sống của Santa Anna, đó là độc lập cho Texas. 

Ngày 14/5/1836, Santa Anna ký hiệp ước Velasco công nhận sự độc lập của nước Cộng hòa Texas. Sam Houston được bầu là Tổng thống đầu tiên. Tuy vậy, đa số dân Texas muốn được trở thành một phần của Mỹ. Sự sáp nhập kéo dài đến 10 năm vì luật Texas vẫn cho phép sở hữu nô lệ, chính quyền trung ương Mỹ và đa số dân chúng không muốn lại có thêm 1 bang còn nô lệ vào liên bang. Tuy nhiên, đến 29/12/1845 thì Texas cũng chính thức trở thành bang thứ 28 của Mỹ. 


Texas trở thành một trong những nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chiến giữa Mỹ và Mexico (1846-1848). Santa Anna khi đó vẫn tiếp tục là tổng thống Mexico. Cuộc chiến kết thúc với thất bại của Mexico, họ mất gần 1 nửa lãnh thổ vào tay Mỹ. Trong khi đó diện tích lãnh thổ Mỹ tăng lên 66%, bao gồm các bang ngày nay là Arizona, California, Nevada, New Mexico, Texas, Utah, và một phần của các bang Colorado, Kansas, Oklahoma, Wyoming. Đây là một bước quan trọng đưa Mỹ trở thành 1 cường quốc trên thế giới, và tất cả bắt đầu từ 1 trận đánh nhỏ tại Alamo. 

26.1.10

Cầu không vận Berlin 1948-1949

[Bài đóng góp bởi CTV]

Đó là một câu hỏi kỳ lạ, và người nghe không chắc vào những gì mình đã nghe: “Anh có thể chở than bằng máy bay không ?” . “Thưa ngài,” thiếu tướng Curtis LeMay trả lời, “Không quân có thể chở mọi thứ”. LeMay gác máy, và bắt đầu suy nghĩ. Người vừa hỏi là tướng Lucius D.Clay , Toàn quyền Mỹ ở Đức, và yêu cầu đặt ra là lập một cầu hàng không từ vùng chiếm đóng của Mỹ đến Berlin , cung cấp nhu yếu phẩm cho hơn 2,5 triệu người.Đó là một thử thách khủng khiếp , nhưng LeMay phải bắt đầu làm quen với những nhiệm vụ như vậy. Không ai từ TT Truman trở xuống mong rằng Bộ Tư lệnh Không quân Châu Âu (USAFE command) của LeMay có thể đáp ứng yêu cầu đó.Họ chỉ mong không quân có thể giúp Berlin cầm cự một thời gian trong khi họ cố gắng với LX . Không ai biết cuộc đàm phán đó kéo dài bao lâu. Nhưng họ đã đánh giá thấp LeMay và USAFE, những người đã hết mình ngay từ những cố gắng đầu tiên.

Toàn cảnh Berlin

 Berlin đứng một mình, bị bao quanh bởi vùng chiếm đóng của Liên Xô. Người Nga chỉ cho phép hạn chế một vài tuyến đường sắt và ôtô tiếp cận Berlin,cùng 3 hành lang bay rộng 32 km , hướng về phía tây tới vùng chiếm đóng của Anh, Pháp, Mỹ. Những điểm kiểm soát của LX mọc như nấm ở mọi hướng vào và ra Berlin . Máy bay Hồng quân tuần tiễu dày đặc sát cạnh hành lang bay .Những sự hạn chế như vậy bắt đầu ngay từ khi việc chiếm đóng bắt đầu. Đầu năm 1948, nó bắt đầu trở nên khắc nghiệt hơn, Liên xô dùng nó như một dấu hiệu bày tỏ sự phản đối những cải cách được phương Tây hậu thuẫn. 31/3, Liên xô tuyên bố giao thông đường sắt và đường bộ sẽ bị lính gác kiểm tra chặt chẽ.

Phương Tây không chấp nhận, và dừng giao thông trên bộ, trừ chuyên chở thực phẩm. Cũng như mọi thành phố trung tâm khác, Berlin phụ thuộc hoàn toàn vào bên ngoài đối với thực phẩm, nhiên liệu.Mối đe dọa của sự bao vây thật sự nghiêm trọng. Anh, Pháp, Mỹ quyết định tiếp tục những cải cách của mình. Đồng mark mới được lưu hành, với giá trị bằng 10 đồng tiền cũ.Liên xô phản ứng tức thì, cấm lưu hành đồng tiền mới trong khu vực của họ. Đồng thời ra lệnh dừng tất cả những chuyến xe lửa và ôtô chở khách từ Berlin sang phía Tây từ nửa đêm 18/6/1948.

6 ngày sau, LX lại tiếp tục leo thang. Lúc đó, xe lửa chở thực phẩm vẫn được chạy từ Helmstedt đến Berlin . Bây giờ, LX thông báo có những “trục trặc kỹ thuật” và đường sắt cần được sửa chữa. Để bảo đảm, họ cho phá dỡ gần 100 mét đường ray.

 Phương Tây chỉ có 2 lựa chọn. hoặc đứng yên và để Berlin chết đói, hoặc di tản và bỏ mặc Berlin cho Liên Xô. Nhưng phương Tây cũng thấy rõ điều gì sẽ đến nếu họ xuôi tay. Và họ thề rằng sẽ ở lại Berlin với bất cứ giá nào.Những tính toàn cẩn thận lúc ấy chỉ ra rằng 2,5 triệu người Berlin (chỉ tính trong khu vực của phương Tây kiểm soát) cần 4500 tấn thực phẩm và nhu yếu phẩm để tồn tại . Và hiện giờ, chỉ còn một cách duy nhất:dùng đường không , qua 3 tuyến hành lang trên.

LeMay hiện có 102 C-47, và 2 C-54. Mỗi chiếc C-47 chở 3 tấn hàng , còn C-54 là 10 tấn.Tức là nhu cầu mỗi ngày của Berlin tương đương 1500 chuyến bay của C-47.Có một sân bay của Mỹ ở Templehof, một của Anh ở Gatow.Không lực Hoàng gia Anh RAF có một số C-47 , nhưng  cộng với USAFE thì vẫn còn thua xa nhu cầu.

 Tận dụng tất cả những gì mình có, LeMay có thể chở 80 tấn hàng tiếp tế vào Berlin ngày 26/6. 2 ngày sau, RAF cũng bắt đầu vào cuộc .Trong 2 tuần , qua hành lang bay , họ chở nhu yếu phẩm cho Berlin . Liên Xô bắt đầu gây hấn, và những mối nguy mới bắt đầu lộ diện.
 
Tăng cường lực lượng

 USAF bắt đầu tăng cường 2 liên đội B-29 thuộc đội ném bom 301, cùng một liên đội có sẵn ở Furstenfeldbruck, gần Munich, trong khu vực của Mỹ. Triển khai thêm khoảng 2 đội B-29, 60 chiếc, đến sân bay của Anh. USAF cũng công bố sẽ triển khai một phi đoàn chiến đấu cơ F-80 tới Đức vào tháng Tám .20/7, 16 F-80 đầu tiên từ căn cứ Selfridge , Michigan , hạ cánh xuống Anh trên đường tới Furstenfeldbruck.
 
Tới lúc đó, “Dịch vụ phân phối than và thực phẩm LeMay” đã vượt ngưỡng 1000 tấn một ngày. Các chỉ huy cao cấp tin rằng chiến dịch nên được chuyển từ tay LeMay sang Binh chủng không vận quân sự MATS. Vì đây là chuyên môn của nó, còn sở trường của LeMay là chiến đấu. Nếu LX có sự gây hấn lộ liễu nào, LeMay sẽ rảnh tay để đối phó.

 23/7, Đội đặc nhiệm cầu không vận ATF được thành lập bởi MATS. MATS nhanh chóng triển khai 8 liên đội hàng không C-54 Skymaster với 72 máy bay tới Đức. Cầu hàng không bắt thay đổi rõ rệt. Thiếu tướng William H.Tunner là chỉ huy của ATF, ông nhanh chóng bay đến Đức để nhận sự bàn giao từ LeMay. “Tôi chờ đợi màn trình diễn của ông”, LeMay nói.Tunner không để tốn một từ ngữ nào “Tôi đang dự tính làm nó đây”.

 Tunner sau này tả lại tình hình lúc đó “…thật sự là một chiến dịch kiểu cao bồi.”. Phi hành đoàn và đội mặt đất không được lên kế hoạch kỹ, C-47 trong tình trạng kém. Hiệu quả thấp.Thời gian bảo trì thấp, tuyến bay tất hạn chế. 7 sân bay liên Xô bao quanh Berlin, trong khi Templehof và Gatow chỉ cách nhau 4 phút bay . Không có chỗ để vận động trong khoảng không chờ hạ cánh nằm ngay trên đầu mỗi sân bay. Thậm chí Templehf không có đường băng , người Đức trước đây cất cánh trên đồng cỏ , sau này USAF lát thêm những tấm thép dã chiến.

 Điểm mấu chốt, Tunner nhận thức, là hiệu quả cao. Sẽ dễ dàng điều hành hơn nhiều khi sử dụng một số lượng ít hơn những máy bay lớn hơn , và tận dụng tối đa số lần hành trình. Nó đơn giản hoá việc kiểm soát bay cũng như phục vụ mặt đất. Nhưng lại tăng gánh năng bảo trì, vì tăng số lần cất cánh , sẽ là cực hình đối với động cơ và lốp. Nhưng dù sao, nó cũng khả thi…

Cầu hàng không liên hợp

Hành lang bay từ khu vực của Mỹ tới Templehof dài hơn 50% so với 2 hành lang còn lại. Căn cứ của RAF ở FassBerg và Celle cách Berlin 260 km theo đường chim bay.Trong khi từ căn cứ Rhein-Main ở khu vực của Mỹ tới Templehof xa 470km. 2 máy bay ở Fassberg có thể làm công việc của 3 chiếc ở Rhein-Main.Tunner đề nghị một chiến dịch liên hợp với người Anh.Từ 21/8 , máy bay Mỹ được triển khai ở Fassberg.15/10, các chiến dịch của USAF và RAF chính thức được liên kết trong Đội đặc nhiệm không vận liên hợp CATF .Tunner là tư lệnh, chuẩn tướng Không quân Anh J.W.F Mercer là phó. C-47 được cấp tốc thay bằng C-54. Khoảng 275 chiếc máy bay 4 động cơ này từ các căn cứ khắp nơi trên Thế giới tập trung lại. Hải quân Mỹ cũng gởi 24 chiếc R5D, loại tương đương với C-54 ,và tham gia cầu không vận đến phút cuối. Một chiếc C-74 đã lập một chuyến bay kỷ lục, và 5 chiếc C-82 dùng để vận chuyển những xe chuyên dùng lớn.
 
Người Anh chở muối cho Berlin bằng thủy phi cơ Short Sunderland.Nó được thiết kế cho những chiến dịch ngoài khơi, và có khả năng chống ăn mòn tuyệt vời , thích hợp để chở muối .

Số lượng máy bay cụ thể không cố định, nhưng vào khoảng 300 chiếc C-54, vào bất cứ lúc nào cũng có 225 chiếc hoạt động và 75 chiếc đang bảo dưỡng. Người Anh có khoảng 100 chiếc đủ loại. Và họ đã luôn , theo đúng phong cách của RAF, làm được nhiều hơn những gì người ta yêu cầu.

Thực thi nhiệm vụ
 
Những chiếc C-54 khởi hành ở Wiesbaden, chất đầy hàng tiếp tế cho Berlin. Những chuyến bay về phía đông mang mật mã “Easy”, những chuyến về phía tây mang mã “Willie”. Những C-54 sẽ là “Big Easy” hoặc “Big Willie”. Hàng tiếp tế, nếu là dân sự, sẽ mang mã “New York”. Nếu là hàng quân sự của Mỹ sẽ là “Chicago”, đối với Pháp sẽ là “Paris”. Nếu hàng hoá dùng cho bảo trì đường băng hoặc xây dựng công trình sẽ mang mã “Engineer”.

Một phi hành đoàn của Big Easy với New York sẽ được phát một lịch trình bay cụ thể, chính xác tới từng giây. Họ biết về tín hiệu radio và số hiệu đuôi của 3 máy bay trước họ và 2 chiếc sau họ.Họ được phát một bản tường trình thời tiết được cập nhật mỗi 30 phút., cùng một báo cáo trên đường đi của điện đài viên , cứ mỗi 7 chiếc đến Berlin một lần. Sau khi cất cánh , họ sẽ tăng độ cao với tốc độ  150m/phút và bắt đầu bước đầu tiên của một quy trình chuẩn hoá giúp họ dễ dàng chia sẻ một hành lang duy nhất với những máy bay từ Rhein-Main.

Họ bay qua Dramstadt, Aschaffenberg, trước khi rẽ ngoặt tới Fulda, điểm kiểm soát cuối cùng  trong khu vực của Mỹ. Trên Fulda ,mỗi máy bay sẽ phát sóng số hiệu máy bay của họ để những máy bay khác có thể kiểm tra vị trí và khoảng cách của họ . Từ Fulda, hành lang bay sẽ dẫn họ thẳng đến Templehof., máy bay sẽ bay với tốc độ chính xác là 170dặm/h.Tới đó, họ sẽ rẽ trái để tới cột mốc Wedding, bắt đầu quá trình hạ cánh .Ở Wedding, họ hướng xuống theo hướng gió, tiếp tục quy trình chặt chẽ đó để đưa máy bay xuống 460m vào lúc bước vào chặng hạ cánh cuối cùng.

Sau khi hạ cánh xuống Templehof, phi cơ sẽ gặp một xe jeep “Follow-me” cùng một thang xuống. Phi hành đoàn xuống máy bay, gặp một sĩ quan tác chiến, người sẽ đưa họ giấy phép quay về và bản chỉ thị thời tiết.Một chiếc xe jeep của Hội chữ thập đỏ Đức dừng lại, được điều hành bởi những cô gái “dễ thương nhất Berlin”, nó sẽ phân phát cà phê, bánh rán và snack cho phi công.Trong lúc đó, một nhóm bốc dỡ người Đức và người tị nạn (từ phía Đông) sẽ dỡ hàng từ máy bay xuống xe tải.

Thời gian quay vòng giữa 2 chuyến bay chỉ khoảng 30 phút, thời gian ngắn như vậy là nhờ 2 lí do. Một là vì Tunner bảo đảm phi công sẽ ở lại bên máy bay thay vì phải vào nhà ga ăn uống, nhận giấy phép, chỉ thị .Tất cả dịch vụ sẽ được đem ra tận máy bay. Ngoài ra, những công nhân bốc dỡ hiểu rõ tầm quan trọng của việc máy bay thực hiện được càng nhiều phi vụ càng tốt, vì vậy họ rất cố gắng làm việc.

Tiêu chuẩn hoá

MATS và Tunner tuyệt đối tin vào sự tiêu chuẩn hoá, khi mọi thứ đã được chuẩn hoá, không có chỗ cho sai lầm. Nó bắt đầu từ khoá huấn luyện được chuẩn hoá ở trường “Little Corridor” ở Great Falls, Montana.Mỗi C-54 có một bảng điều khiển chuẩn hoá. Một phi đội chuẩn gồm 3 người : Cơ trưởng , phi công phụ , kỹ sư máy .Quy trình khởi hành , từ căn cứ chính , bay qua hành lang , tiếp cận và đáp xuống Templehf hoặc Gatow được chuẩn hoá.

Những giới hạn bay là Trần mây 120m, tầm nhìn 1,6 km ở Templehof . Còn ở Gatow là 60m và 0,8 km . Sự chênh lệch là do gần Templehof có nhiều nhà cao tầng.Trên thực tế, đã không xảy ra sự ùn tắc do thời tiết xấu, có rất ít chuyến hạ cánh bị hủy, ngay cả trong thời tiết xấu nhất.

Máy bay được xuất phát cách nhau 180 giây .Do đó đường băng ở Templehof và Gatow được sử dụng mỗi 90 giây cho những chuyến cất cánh và hạ cánh xen kẽ. Trong hành lang bay, máy bay duy trì một hướng bay và tốc độ cố định. Và mỗi chiếc giữ một khoảng cách về độ cao là 500ft (150 m) so với chiếc dẫn đầu trong nhóm 3 chiếc. Thông thường, chiếc bay đầu sẽ ở độ cao 2000ft., chiếc thứ 2, 3 phút phía sau, ở 2500 ft. Chiếc thứ 3 ở 3000ft, và chiếc thứ 4 ( chiếc đầu của nhóm kế tiếp) lại ở 2000ft.

Như đã dự đoán, động cơ và lốp máy bay thực sự bị thử thách. C-54 được thiết kế để bay đường dài. Nghĩa là nó sẽ cất cánh từ một đường băng bằng phẳng, bay qua một quãng đường dài, và sau khi đốt hết số nhiên liệu , nó sẽ tiếp đất nhẹ nhàng. Những chiếc C-54 của MATS phải cất cánh với tổng trọng lượng 33 tấn, và hạ cánh gần như không đổi 32,2 tấn . Trong khi đó, trọng lượng tiếp đất tối đa cho phép trong một chuyến bay dân sự đối với cùng máy bay là 29 tấn.

Sự tra tấn với máy bay

Với một tỷ lệ số lần hạ cánh trên số giờ bay cao hơn hẳn bình thường (vì quãng đường ngắn), và phần lớn được thực hiện trên những đường băng dã chiến gồ ghề, lốp máy bay xuống cấp nhanh chóng. Và cũng vì tỷ lệ cất cánh cao, động cơ phải làm việc cật lực với cường độ cao hơn, sự hao mòn do đó tăng theo.Tunner phải cho chở lốp dự phòng từ Mỹ qua.

Mỗi chiếc C-54 bay trung bình đến 8,5 giờ mỗi ngày. Nó thật sự cần được duy tu thường xuyên, từ hệ thống điện, điều hoà trong cabin, thủy lực cho tới thay lốp, động cơ dự phòng. Không có đủ người để thay 90 động cơ một tháng, cũng như 23 chiếc lốp mỗi ngày.

Tunner cho phép tái tuyển mộ đối với những cựu thợ máy của Luftwaffe (Không quân Đức) làm việc ở Templehof. Cũng dễ hiểu là ban đầu, có rất nhiều khó khăn đối với chính sách này. Lúc đó, một thiếu tướng Luftwaffe, người từng phục vụ trong lực lượng không vận, hiểu rõ vấn đề . Hans Detlev von Rohden là người biết tiếng Anh, ông đã dịch các bản hướng dẫn kỹ thuật ra tiếng Đức, và những thợ máy mới bắt đầu đến. Và đến cuối chiến dịch, số kỹ thuật viên Đức vượt số đồng nghiệp Mỹ.

Sau khi bay 200 giờ, C-54 sẽ tới kho của USAF ở Burtonwood, Anh để kiểm tra. Sau 4 lần kiểm tra , nó sẽ quay về Mỹ, trải qua 44 ngày đại tu chính ở một trong 4 xưởng đại tu dân sự. Sau khi đã được thay thế một số bộ phận ,nó quay lại Đức.

Chiến dịch Little Vittles

 Chiến dịch này, cho đến nay, mang tên chiến dịch Vittles, từ mà sau này trở thành một từ đặc Mỹ ở vùng nông thôn, chỉ đồ ăn thức uống dự trữ. Nhưng song song với nó còn có một chiến dịch Little Vittles nữa. Nó bắt nguồn từ anh Trung uý Gail Halvorsen, một người yêu trẻ con. Có những đám trẻ thường tụ tập gần Templehof để xem máy bay, một lần, tình cờ trong lúc đi dạo quanh sân bay, Halvorsen gặp bọn trẻ , anh cho chúng kẹo và kẹo cao su. Từ đó, anh thường vẫy cánh của chiếc C-54 mỗi khi nó bay thấp trên đầu bọn trẻ, và chúng vẫy tay lại.Thế là Halvorsen quyết định sẽ thả kẹo cho chúng, anh làm một cái dù nhỏ bằng những cái khăn tay, và đồng đội của anh ném chúng ra ngoài khi máy bay thực hiện vòng lượn cuối cùng trước khi hạ cánh.

Nhanh chóng, nhiều người biết đến sự kiện này. Bọn trẻ ngày một đông.Và Halvorsen đã là người thành lập bất đắc dĩ của Chiến dịch Little Vittles. Người Mỹ gửi những thùng khăn tay, những người bốc dỡ cẩn thận cắt những cái dù quá hạn thành những miếng nhỏ. Những phi công quyên góp bánh kẹo. Nếu so sánh về quy mô, thì Little Vittles chẳng là gì so với Vittles, nhưng nó vẫn luôn được mọi người nhớ và nhắc đến.

Cầu hàng không liên tục mở rộng về quy mô. Người Pháp cũng tham gia chiến dịch , mặc dù họ không có máy bay . Nhưng họ có một sân bay khác ở Berlin, ở Tegel, và họ đưa nó vào sử dụng. Tuy nhiên có một trở ngại, một đài radio của người Nga, nó gây nhiễu các thiết bị và gây nguy hiểm cho việc cất và hạ cánh. Người Anh và Mỹ đàm phán với Liên Xô để tháo dỡ nó, nhưng thất bại. Cho đến nay, có nhiều giai thoại được thêu dệt, nhưng có một việc chắc chắn là chính người Pháp đã giải quyết vấn đề. Họ mở một bữa tiệc ở Tegel để khai trương sân bay, mời các lực lượng của USAF và RAF tới. Không khí vui vẻ của bữa tiệc bị phá vỡ phải một tiếng nổ chói tai, tháp radio bị phá hủy. Người Pháp đã phá hủy nó? Nhưng tất nhiên là cả USAF và RAF cũng ở đó, có thể chính họ làm lắm chứ? Người Nga hiểu điều đó, họ phàn nàn nhưng chẳng làm gì cả.

Thông điệp rõ ràng

 Là Berlin không bị chết đói. Khẩu phần ăn được tăng lên từng ngày. Người Berlin có than cho mùa đông, có sữa cho bọn trẻ, có thuốc men cho người ốm và có thực phẩm cho tất cả. Người Nga phải lùi bước, 9/5/1949, Liên Xô tuyên bố vòng phong toả sẽ bị dỡ bỏ một phút sau nửa đêm ngày 12/5/1949. Cầu hàng không vẫn tiếp tục, để tăng cường thêm cho đường bộ, cũng như đề phòng LX thay đổi quyết định.Quy mô giảm từ từ cho đến khi chấm dứt hẳn vào 30/9/1949.

Những con số thống kê đã nói lên tất cả. Những máy bay của USAF, RAF cùng với khoảng 40 máy bay tư nhân thuê bao của Anh đã chở trung bình 1 tấn hàng cho một người Berlin. Trừ một khoảng thời gian 15 tiếng đồng hồ vào tháng 11/1948, tháng của sương mù dày đặc, cầu hàng không đã hoạt động suốt ngày đêm không nghỉ, 7 ngày trong tuần. Giữa tháng 4/1949, người ta lập một kỷ lục về chuyên chở trong một ngày. 13000 tấn hàng được chuyển bởi 1389 chuyến bay trong cái gọi là Cuộc diễu hành Lễ phục sinh. Mục tiêu ban đầu là trung bình 4500 tấn một ngày bị vượt qua, và đạt mức 5620 tấn vào 10/1948. Từ 26/6/1948 đến 30/9/1949, đã có 2.325.000 tấn hàng được chuyển. Trong đó 1.783.000 được chuyển bởi USAF.

24.12.09

Những chiến hạm vượt thời gian

Chiếc tàu hải quân lâu đời nhất thế giới vẫn còn hoạt động cho đến ngày nay là chiếc VMS Kommuna của hải quân Nga, trong vai trò là tàu dịch vụ, hỗ trợ cho hoạt động của các tàu ngầm loại nhỏ. Con tàu 2 thân nặng 2500 tấn này được đóng tại Hà lan và chính thức tham gia biên chế trong hải quân của Sa hoàng từ 1915, nghĩa là nó đã trải quan gần 1 thế kỷ thăng trầm của nước Nga, với 3 chế độ chính trị khác nhau.


Trên danh nghĩa thì chiếc tàu cổ nhất vẫn còn trong biên chế hải quân là chiếc USS Constitution của hải quân Mỹ. Nó là 1 chiếc tàu buồm và đã thuộc hải quân Mỹ từ 1797 cho tới nay. Hiện nay nó vẫn được coi là 1 chiến hạm chính thức thuộc biên chế, với 1 thủy thủ đoàn cũng thuộc lực lượng thường trực của hải quân Mỹ. Sở dĩ con tàu hơn 200 tuổi này được giữ lại là do danh tiếng của nó trong lịch sử, đặc biệt là trong Chiến tranh 1812 với hải quân Anh. Khi đó nó đã chiếm được rất nhiều tàu hàng của Anh và đã đánh bại 5 chiến hạm khác nhau của hải quân Hoàng gia Anh. Nổi tiếng nhất là trận chiến với chiến hạm HMS Guerriere. Khi đó những phát đạn đại bác từ tàu Anh bắn vào thân tàu Constitution đều bị nảy ra. Một thủy thủ khi đó đã thốt lên rằng thân tàu của nó giống như được làm bằng thép vậy.

 
Hải quân Anh cũng có 1 chiếc tàu buồm vẫn còn trong biên chế, đó là chiếc HMS Victory. Đây là chiếc kỳ hạm mà đô đốc Horatio Nelson đã dùng trong trận chiến Trafalgar năm 1805. Đây là trận hải chiến quan trọng nhất trong lịch sử thế giới cận đại, và là 1 trong những trận quan trọng nhất trong lịch sử loài người. Trong trận chiến đó, hạm đội của Nelson dù có số lượng ít hơn đã đánh bại hoàn toàn hạm đội của Napoleon, tiếp tục khẳng định sự thống trị tuyệt đối của hải quân Anh trước hải quân của Hoàng đế Pháp, do đó bảo vệ được nước Anh trước tham vọng của thiên tài quân sự này. Đô đốc Nelson hy sinh trong quá trình diễn ra trận chiến và được tàu Victory chở về Anh, nơi ông được tôn vinh là người anh hùng vĩ đại nhất của Anh cho tới ngày nay. Bản thân chiếc Victory đã nằm trong biên chế từ 1778, nghĩa là còn lâu đời hơn chiếc USS Constitution, tuy nhiên nó mất danh hiệu chiếc tàu chiến cổ nhất trong biên chế chính thức vì nó chủ yếu được giữ trên cạn, trong khi chiếc Constitution vẫn còn có thể di chuyển được. Tuy vậy nếu tính đến yếu tố vẫn còn được sử dụng cho nhiệm vụ thật sự thì chiếc VMS Kommuna là chiếc lâu đời nhất.


2.9.09

Trận chiến trên eo biển Tsushima

Giới thiệu
Trận chiến Tsushima diễn ra ngày 27-28/5/1905 giữa Hạm đội Baltic của Nga dưới quyền đô đốc Zinovi Rozhdestvensky và hạm đội Nhật dưới quyền Đô đốc Togo Heihachiro trên eo biển Triều Tiên. Nó đánh dấu một bước ngoặt về sự thay đổi quyền lực ở khu vực Thái Bình Dương đầu thế kỷ 20.
Căn nguyên sâu xa
Chiến tranh Nga-Nhật nổ ra như là kết quả của sự tranh giành phạm vi ảnh hưởng từ đống tro tàn của đế chế Trung Hoa giữa một cường quốc cũ (Nga) và cường quốc mới (Nhật). Trong cuộc chiến Trung-Nhật (1895-1896) mà chiến thắng thuộc về quân đội hiện đại hơn của Nhật, đã tạo cho đế quốc mặt trời mọc này một chỗ đứng trong châu Á đại lục, với cảng chiến lược Arthur tại Mãn Châu, cùng với Đài loan và một khoản tiền bồi thường lớn.

Nước Nga, sử dụng sức mạnh ngoại giao của mình giữa các cường quốc phương Tây, đã buộc Trung quốc ký một hợp đồng cho thuê, đưa cảng Arthur lại cho Nga. Phong trào Nghĩa hoà Đoàn nổ ra năm 1900 đã tạo điều kiện cho Nga để lại một đơn vị gìn giữ hoà bình ở TQ, và nước Nga đã sử dụng lực lượng đó để chiếm và củng cố cảng Arthur. Căng thẳng vẫn ở mức cao vào năm 1901 mặc dù quá trình đàm phán vẫn tiếp tục, Nhật Bản sắp xếp một hiệp ước với Anh theo đó bảo đảm sự trợ giúp của Anh nếu như có một cường quốc nào khác ngoài Nga liên quan đến vụ việc. Bộ Hải quân Nga đã đánh giá thấp một cách nghiêm trọng quyết tâm của người Nhật và khả năng tiến hành chiến tranh hiện đại của họ. Nhưng thật sự thì con đường dẫn đến chiến thắng của người Nhật đã bắt đầu từ rất lâu trước đó, khi mà họ mở cửa đối với phương Tây.
Phát triển Hải quân
Trong thế kỷ 16, tướng quân mạc phủ Tokugawa, lãnh chúa phong kiến của Nhật, đã tách rời nước Nhật khỏi phần còn lại của thế giới. Trong nhiều thế kỷ, kỹ thuật quân sự tiên tiến nhất ở đây là súng hoả mai. Cùng với sự tiếp xúc với phương Tây, sau khi hạm đội của đô đốc Perry (Mỹ) tới vịnh Tokyo, nước Nhật nhận ra rằng họ phải hiện đại hoá (không như TQ). Đến năm 1867, họ mua một thiết giáp của phe ly khai trong nội chiến Mỹ, chiếc CSS Stonewall, và bắt đầu xây dựng hải quân hiện đại. Năm 1877 đánh dấu sự thất bại của những samurai cũ trong nội chiến. Một triều đại mới, gọi là Meiji (Minh Trị), nắm quyền và ngay lập tức tái xây dựng nền kinh tế Nhật bằng cách cùng lúc công nghiệp hoá và quân sự hoá, với những thành công vang dội. Từ 1894 đến 1905, chi tiêu cho quốc phòng đạt đến 40% ngân sách. Nếu như năm 1880, tổng trọng tải hạm đội của Nhật chỉ là 15000 tấn thì đến năm 1905, con số này là 252000 tấn, cùng một hạm đội đầy kiêu hãnh với 31 tuần dương hạm và thiết giáp hạm hiện đại.
Hạt nhân của hải quân mới chính là sự huấn luyện, mà đã vượt quá mức yêu cầu. Một ví dụ sống động là về đô đốc Isoroku Yamamoto, người đã bị thương trong trận chiến Tsushima, sau này là kiến trúc sư trưởng của vụ tập kích Trân Châu Cảng lịch sử. Khi còn là một học viên trẻ của hải quân Nhật, cả lớp của ông ta đã được yêu cầu phải bơi qua giữa 2 hòn đảo ngoài khơi phía bắc Nhật Bản. Nơi đó đang có một luồng nước lạnh chảy rất xiết, cùng với những bầy cá mập. Nhiều tá học viên đã không thể chạm tới bờ.

Kỹ năng pháo binh và vận động cũng được tập luyện rất thường xuyên như thể họ đang chiến đấu thật. Các pháo thủ tập bắn với đạn thật, các chiến hạm tập di chuyển vận động với vận tốc như trong chiến đấu mà kết quả có thể khiến con tàu bị hỏng, thậm chí mất tàu. Các sĩ quan và thủy thủ luôn được đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu ở mức cao nhất, không có bất cứ sự kém cỏi nào được chấp nhận. Việc giáng chức, hay đuổi khỏi quân đội rất thường xuyên xảy ra, từ các sĩ quan cao cấp cho tới những lính mới.
Chú gấu già nua
Hải quân Nga, hoàn toàn trái ngược, đang ở trong tình trạng suy tàn. Mặc dù nhiều thủy thủ Nga rất có năng lực, Bộ hải quân lại toàn những kẻ thủ cựu, và ngân sách dùng để duy trì hạm đội Nga lại đặc biệt nhỏ. Tuy vậy, nước Nga, vì sức mạnh trên bộ, vẫn được các nước phương Tây vị nể. Nhưng ngày 10/1/1904, nước Nhật đã làm cả thế giới ngạc nhiên khi tuyên chiến với Nga và tấn công cảng Arthur từ biển. Hải quân Nhật nhanh chóng chiếm ưu thế và tiêu diệt hạm đội Thái Bình Dương của Nga trong trận chiến Shantung ngày 10/8/1904. Các chiến dịch trên bộ cũng diễn ra quyết liệt mà đỉnh cao là trận chiến Mukden (hay Shenyang) từ 19/2/-10/3/1905 với sự tham gia của 330.000 quân Nga và 270.000 quân Nhật, được nhiều nhà sử học coi là trận chiến “hiện đại” đầu tiên trong lịch sử. Chiến thắng cuối cùng thuộc về người Nhật.

Yêu cầu cần phải tái thiết lập lại quyền lực trên bộ và trên biển đã dẫn tới việc Hạm đội Baltic được lệnh lên đường sang châu Á ngày 15/10/1904. Hạm đội khi đó được đổi tên là Hải đội Thái Bình Dương số 2. Hạm đội được đặt dưới sự chỉ huy của đô đốc Zinovy Petrvich Rozhestvensky, được tăng thêm bởi một số tuần dương hạm cũ kiểu những năm 1880 dưới quyền đô đốc Nebagatov cùng một số tàu vận tải. Rozhestvensky đã chỉ huy hạm đội của mình thực hiện một kỳ công là đi qua một quãng đường dài hơn 18000 hải lý (hơn 33.300 km) và đến châu Á nhiều tháng sau đó (trong số những nơi mà hạm đội này ghé qua có cảng Cam Ranh ở Việt nam). Đáng tiếc là thất bại thảm hại của hạm đội Nga sau đó đã làm lu mờ kỳ tích trên. Mục tiêu của hạm đội là đến được Vladivostok, cảng duy nhất của Nga trong khu vực. Đô đốc Togo biết điều đó, và ông ra lệnh cho tàu của mình tuần tra trên 3 tuyến đường mà hạm đội Nga có thể đi qua.
Diễn biến trận chiến
Trước khi bước vào cuộc chiến, người Nhật đang có những lợi thế mang tính quyết định: chiến trường gần quê nhà, một lực lượng gọn nhẹ hơn gồm toàn những chiến hạm kiểu mới và đồng bộ về tốc độ và hoả lực, thủy thủ được huấn luyện chu đáo và đang có nhuệ khí rất cao, việc lên kế hoạch và tập luyện kỹ lưỡng cho cả mục tiêu chiến lược và chiến thuật.

Ngày 27/5/1905, đô đốc Togo nói với toàn hạm đội “Vận mệnh của đế chế chúng ta phụ thuộc vào chỉ một trận chiến này, mọi người hãy chiến đấu với tất cả khả năng của mình”.

Hạm đội Nga bị phát hiện khi một đội tuần dương hạm của Nhật tìm ra 2 tàu bệnh viện của họ trong một khu vực đầy sương mù ở eo Tsushima tối ngày 26/5/1905. Chiều ngày 27/5, hai hạm đội giáp mặt nhau. Hạm đội Nga xếp thành đội hình hàng dọc từ Nam-Tây Nam sang Bắc-Đông Bắc, còn hạm đội Nhật là từ Tây sang Đông Bắc. Hạm đội Nga có 45 chiếc, gồm 12 thiết giáp hạm (tàu chủ lực), 8 tuần dương hạm, các khu trục hạm và tàu hỗ trợ khác. Phía Nhật có 4 thiết giáp hạm và một số tuần dương hạm, khu trục hạm. Đô đốc Togo có một quyết định táo bạo cho ra lệnh cho hạm đội của mình di chuyển chặn đầu hạm đội Nga và tập trung hoả lực vào chiếc kỳ hạm của hạm đội Baltic, chiếc Knyaz Suvorov, với đô đốc Rozhestvensky trên boong. Cách vận động táo bạo này làm hạm đội Nga bất ngờ, và chỉ có thể được thực hiện nhờ vào lợi thế tốc độ cũng như thủy thủ đoàn thiện nghệ của hạm đội Nhật.

Kỳ hạm Knyaz Suvorov khai hoả trước tiên, ba phút sau, chiếc kỳ hạm của đô đốc Togo, chiếc Mikasa, đáp trả. Đội hình hai hạm đội giữ một khoảng cách ổn định khoảng 6200m và xối hoả lực vào nhau. Nhịp bắn của quân Nhật rất ấn tượng, ước tính khoảng hơn 2000 phát đạn hạng nặng trong 1 giờ. Hơn nữa, người Nhật sử dụng một loại chất nổ có công thức mới trong đạn của mình, bắn vào những cấu trúc phía trên của tàu Nga và làm bùng lên những đám cháy dữ dội trên bất cứ con tàu nào bị bắn trúng. Mức độ chính xác của hoả lực Nhật làm người Nga phải sững sờ. Một sĩ quan Nga, thuyền trưởng Semenoff, đã viết “Tôi chưa bao giờ chứng kiến hoả lực nào như thế trước đây, tôi thậm chí không bao giờ dám tưởng tượng ra. Đạn dường như đang được rót xuống chúng tôi liên tục, cái này tiếp nối cái kia”. Thêm nữa, những chiến hạm của Nhật có thể đạt tốc độ 16 hải lý/h, trong khi của hạm đội Nga chỉ là 8 hải lý/h, chủ yếu vì phải chờ những chiếc tàu vận tải chậm chạp. Không những thế, người Nhật còn sử dụng một loại vũ khí mới là ngư lôi. Đã có lúc trong trận chiến, 30 khu trục hạm Nhật đồng loạt phóng ra 74 quả ngư lôi, đánh chìm ngay lập tức thiết giáp hạm Sisoy Veliky và 2 tuần dương hạm khác.

Trở lại với diễn biến của trận chiến, trong 40 phút đầu tiên, người Nhật xối mưa đạn xuống 2 thiết giáp hạm Nga là chiếc Knyaz Suvorov (tàu chỉ huy) và Oslyabya. Chiếc Oslyabya bị đánh đắm cùng với thuyền trưởng Vladimir Ber cùng phần lớn thủ thủ đoàn. Đô đốc Rozhestvensky bị thương nặng ở đầu, còn chiếc kỳ hạm của ông cũng bị hư hại nặng, hầu như không thể chỉ huy hạm đội được nữa. Chỉ huy 2 thiết giáp hạm Hoàng đế Alexander III và Borodino, thuyền trưởng Bukhvostov và Serebrenikov, cố gắng trong vô vọng để che chắn cho chiếc kỳ hạm và đưa hạm đội trở lại tuyến đường đến Vladivostok. Chiếc Borodino dẫn những thiết giáp hạm quay trở lại đội hình hàng dọc chính, nơi những tuần dương hạm đang chống cự để bảo vệ những chiếc tàu vận tải.
Bỏ lại chiếc kỳ hạm Knyaz Suvorov đang bốc cháy, chiếc Borodino chạy về phía nam, thuyền phó Makarov thay thế thuyền trưởng Serebrenikov, đang bị thương, chỉ huy tàu. Tuy nhiên, nó cùng những chiếc khác bị quân Nhật chặn lại. Chiếc Borodino và Hoàng đế Alexander III bị đánh chìm ngay trước khi màn đêm buông xuống. Và gần như cùng lúc, kỳ hạm Knyaz Suvorov bắt đầu chìm vì bị ngư lôi Nhật đánh trúng. Chiếc khu trục hạm Buyny do Kolomeitsov chỉ huy vội chạy đến để cứu tư lệnh Rozhestvensky và bộ tham mưu. Những sĩ quan của chiếc Kyaz Suvorov gồm đại uý Nikolay Bogdanov, Vyrbov, và thiếu uý Verner Kursel từ chối rời tàu và đã chịu chung số phận với chiếc kỳ hạm.

Tối hôm đó, từ trên boong chiếc Hoàng đế Nicholas I, chuẩn đô đốc Nebogatov tiếp nhận quyền chỉ huy hạm đội. Togo ra lệnh tạm ngừng bắn và cho những khu trục hạm áp sát và tấn công ở khoảng cách gần. 30 khu trục hạm Nhật phóng ra 74 quả ngư lôi Whitehead và đã đánh chìm thiết giáp hạm Sysoy Veliky cùng với tuần dương hạm Đô đốc Nakhimov và Vladimir Monomakh.

Sang ngày hôm sau, 5 chiếc thiết giáp hạm dưới quyền Nebogatov buộc phải đầu hàng. Chuẩn đô đốc Enkwist cùng 3 tuần dương hạm Oleg, Aurora, Zhemchug chạy về được đến căn cứ hải quân Mỹ ở Manila và bị giam giữ ở đó. Chỉ có khoảng 3 chiến hạm bị hư hỏng nặng của Nga, 1 tuần dương hạm hạng nhẹ và 2 khu trục hạm, là tới được Vladivostok. Đô đốc Rozhestvensky và bộ tham mưu được chuyển từ chiếc Buyny, bị hỏng động cơ, sang chiếc Bedovy, và sau đó bị quân Nhật bắt làm tù binh.

Nói chung, một số chiến hạm Nga đã chiến đấu rất anh dũng, đôi lúc trước nhiều tàu địch. Nhưng trước một đối phương hơn hẳn về mọi mặt thì tinh thần thôi là chưa đủ, chưa kể là tinh thần chiến đấu của toàn hạm đội Nhật cũng rất cao. Tổng kết cuộc chiến đã phản ánh chiến thắng vang dội cho phía Nhật. Hạm đội Nga mất phần lớn số tàu chiến, 4380 người chết, 5917 bị thương, 4000 bị bắt làm tù binh, trong đó có 3 đô đốc. Hạm đội Thái Bình Dương, Baltic, và hạm đội dự bị của họ hầu như không còn tồn tại. Phía Nhật mất 117 người, 583 bị thương, mất 3 tàu phóng lôi.
Ảnh hưởng của trận Tsushima
“Người Nga không quá tệ như cái cách mà họ bị đánh bại, và họ bị thảm bại vì họ đã thờ ơ và không bị đẩy vào thế đường cùng như ở Crimea hay như ở cuộc kháng chiến chống Napoleon, trong khi mỗi binh sĩ và thủy thủ Nhật tin rằng, mà thật sự nó đúng như vậy, rằng vận mệnh dân tộc họ đang lâm nguy và mỗi cố gắng của từng cá nhân có thể quyết định đại cục” (theo tờ New York Sun).
Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt chủ trì hội nghị hoà bình ở Portsmouth, New Hampshire, và một hiệp định được ký ngày 6/11/1905. Nước Nga rút khỏi Mãn Châu, công nhận Triều Tiên là “vùng ảnh hưởng” của Nhật, đồng ý cho Nhật thuê bán đảo Liêu Đông, cho Nhật quyền kiểm soát Tuyến đường sắt Nam Mãn Châu, từ bỏ chủ quyền của đảo Sakhalin nằm về phía nam vĩ tuyến 50, cho Nhật quyền đánh bắt cá.

TT Roosevelt đã nhận ra sự ra đời của một con hổ mới của phương Đông. Ông viết trong một bức thư cá nhân năm 1906: “Trong nhiều năm, người Anh, người Mỹ, người Đức, những người xem nhau như kẻ thù trong nền ngoại thương ở Thái Bình Dương, sẽ phải dè chứng Nhật Bản hơn bất cứ quốc gia nào khác trong quá khứ … Nếu chúng ta cố đối xử với họ như cách ta đối xử với người TQ, và cùng lúc chúng ta không thể giữ cho lực lượng hải quân ở mức cao nhất về trình độ và quy mô, thì chẳng khác nào chúng ta đã tự rước hoạ vào thân”.

Về phản ứng của công chúng Nhật trước hiệp định Portsmouth thì nói chung họ coi đó là một sự phản bội. Lời giáo huấn về fukoken kyohei ( một đất nước giàu có với một quân đội mạnh) và cơ sở cho những suy nghĩ của họ. Họ cảm thấy hiệp ước đã cướp đi những lợi ích chính đáng của họ, nước Nhật đã bị o ép. Và họ cho rằng chính quyền dân sự phải chịu trách nhiệm chính, còn giới quân sự là những anh hùng. Đó là nhân tố dẫn đến việc chính quyền Meiji cuối cùng bị phế truất và một chế độ độc tài quân sự được thiết lập và đã dẫn nước Nhật vào Thế chiến thứ hai.

Nước Nhật giờ đây đã có ưu thế trên biển để hỗ trợ cho những bước đi của nó ở Mãn châu, Triều tiên và nhiều nơi khác. Trong khi đó, trong hơn 3 thập niên tiếp theo, những nước phương Tây phải đối phó với chiến tranh thế giới thứ nhất, cách mạng Nga, sự tái sinh của nước Đức quốc xã, và dần rời xa khu vực châu Á. Còn Yamamoto thì lên chỉ huy hạm đội Nhật, và những bài học từ Tsushima, cảng Arthur đã trở thành triết lý quân sự của ông. Những nền tảng quân sự, chính trị, kinh tế cho một trận chiến mới ở Thái Bình Dương đã được thiết lập mà những diễn viên chính trong đó là nước Nhật và nước Mỹ.

3.7.09

Trận chiến Somme, 1916

(1/7/1916-18/11/1916)

Giới thiệu
Nằm trong số những chiến dịch tấn công lớn của lực lượng Liên minh ở mặt trận phía tây trong suốt năm 1916 trong Thế chiến thứ nhất, trận chiến Somme nổi tiếng một phần lớn là vì con số thương vong 58000 lính Anh ngay trong ngày đầu tiên của trận đánh, ngày 1/7/1916. Cho đến nay, nó vẫn còn là một kỷ lục. Cuộc tấn công diễn ra trên một chính diện rộng 30km, từ phía bắc sông Somme giữa Arras và Albert, Pháp. Nó diễn ra cho đến ngày 18/11/1916.

Kế hoạch
Trận chiến sông Somme ban đầu được lập kế hoạch như là một chiến dịch liên hợp giữa Anh và Pháp từ cuối năm 1915. Ý tưởng này bắt nguồn từ Tổng tư lệnh quân đội Pháp, Joseph Joffre, và được tướng Sir Douglas Haig, người vừa nhận chức tư lệnh Lực lượng viễn chinh Anh quốc (BEF), tán thành, mặc dù ông này thích một cuộc tấn công ở Flanders, một khu vực rộng rãi hơn. Theo Joffre, đây sẽ là một trận chiến hao mòn, nhằm làm kiệt quệ lực lượng dự bị của quân Đức. Chiếm lãnh thổ chỉ là mục tiêu thứ hai.
Ban đầu, người ta dự tính lực lượng Pháp sẽ đóng vai trò chủ yếu trong cuộc tấn công này. Tuy vậy, đầu năm 1916, người Đức phát động một chiến dịch tổng tấn công ở Verdun, nơi mà tổng tham mưu trưởng lục quân Đức Von Falkenhayen dự định sẽ làm quân Pháp “chảy máu đến chết”. Do đó, hầu hết lực lượng Pháp phải dồn về Verdun, và quân Anh đóng vai trò chính ở Somme.
Cuộc tấn công vào Verdun cũng đã làm thay đổi mục tiêu ở Somme. Theo đó, mục đích chính của nó là kéo bớt lực lượng Đức từ Verdun về phòng thủ Somme. Tướng Haig tiếp nhận trách nhiệm lập kế hoạch và điều hành chiến dịch từ tay Joffre. Haig được sự giúp sức của tướng Sir Henry Rawlinson, chỉ huy tập đoàn quân số 4, đơn vị tiên phong. Haig dự định sẽ kết hợp cả kế hoạch của ông và Rawlinson.
Theo kế hoạch của Haig, mở đầu cho chiến dịch sẽ là 8 ngày pháo kích, mà ông tin rằng sẽ hoàn toàn phá huỷ tiền tuyến quân Đức. Quân Anh sau đó sẽ tràn vào vùng đất chết đó. 1500 khẩu pháo của Anh, và chừng đó của Pháp, đã được triển khai. Sau hoả lực mở màn sẽ là hàng rào hoả lực pháo binh di động để yểm trợ cho bộ binh tiến sát đến tiền tuyến quân Đức, và đền cả tuyến chiến hào thứ hai và ba. Pháo binh Hoàng gia đã chuẩn bị hệ thống cáp điện thoại dưới mặt đất để cho các sĩ quan trinh sát hoả tuyến có thể điều chỉnh hàng rào pháo yểm trợ.
Tướng Rawlinson sẽ dẫn đầu cuộc tấn công chính, Tập đoàn quân 4 của ông dự tính sẽ tiến tới Bapaume. Ở phía Bắc của Rawlinson, tướng Allenby và tập đoàn quân số 3 được yêu cầu sẽ đột phá qua một khoảng trống được tính sẽ xuất hiện bằng kỵ binh. Xa hơn về phía nam, tướng Fayolle sẽ cùng tập đoàn quân 6 (Pháp) tiến về Combles.
Tổng cộng, Haig có trong tay 27 sư đoàn với 750.000 người chống lại 16 sư đoàn Đức thuộc tập đoàn quân số 2. 80% trong số quân của Haig là từ BEF.

Diễn biến trận đánh
Trận pháo kích mở màn 8 ngày, bắt đầu từ 24/6, đã không thể phá huỷ được hệ thống hàng rào kẽm gai cũng như những boong-ke bê tông kiên cố của quân Đức. Một số lượng lớn đạn của quân Anh không nổ, thậm chí cho đến ngày nay, nông dân của khu vực này hàng năm vẫn đào lên được hàng tấn đạn pháo. Và trên thực tế, tác dụng chủ yếu của đợt pháo kích dữ dội này là báo động cho quân Đức về một cuộc tấn công sắp tới.
Cuộc tấn công của bộ binh bắt đầu lúc 7h30 sáng ngày 1/7/1916 với việc kích nổ liên tục 17 quả mìn lớn. Quả đầu tiên, mang tên Hawthorn, tạo thành một cái hố khổng lồ mà vẫn còn tồn tại cho đến hôm nay. Không bị bất ngờ, không bị ảnh hưởng nhiều bởi đợt pháo kích trước đó, có lợi thế từ những vị trí phòng thủ kiên cố trên cao, quân Đức, đặc biệt là những ụ súng máy, đã gây cho quân Anh một con số thương vong khổng lồ, 58000, trong đó 1/3 bị giết. Đây là ngày đen tối nhất trong lịch sử lục quân Anh. Những bước tiến mà quân Anh đạt được rất ít, cả trong nhiều tuần sau đó. Một đợt tấn công đêm ngày 13/7 đã tạo được một đột phá khẩu tạm thời, nhưng quân tăng viên phía Đức nhanh chóng đến kịp và lấp kín lỗ hổng đó. Haig tin rằng quân Đức đang sắp kiệt sức, và ra lệnh tiếp tục công kích. Mặc dù đã đạt được một số thắng lợi, nhưng chúng quá nhỏ để có thể được tiếp tục.
Về phía nam, lực lượng Pháp đạt được nhiều tiến bộ hơn, chủ yếu vì họ cho bộ binh tiến vào sau trận pháo kích sớm hơn và vì phía Đức cho rằng quân Pháp sẽ không tham chiến. Ngày 15/9, quân đoàn 10 của Pháp dưới quyền tướng Micheler tham gia trận chiến. Tại Flers-Courcelette, lần đầu tiên quân Anh sử dụng xe tăng trên chiến trường, cộng với 15 sư đoàn, tuy vậy họ chỉ tiến được vài km.
Những chiếc xe tăng đầu tiên trong lịch sử này, tổng cộng 50 chiếc, đến Somme từ tháng 9. Do một số trục trặc kỹ thuật và các nguyên nhân khác, số xe tăng xuất trận chỉ là 24 chiếc. Mặc dù gây ra sự bất ngờ và hoang mang trong hàng ngũ quân Đức, những chiếc xe tăng này tỏ ra quá kềnh càng và không đáng tin cậy.
Trong những ngày tiếp theo, bất cứ khi nào thời tiết thuận lợi, tướng Haig đều ra lệnh tấn công. Đến ngày 13/11, BEF chiếm được pháo đài ở Beaumont Hamel. Tuy vậy, tuyết nặng hạt đã khiến Haig phải từ bỏ chiến dịch. Kể từ 1/7, quân Anh chịu con số thương vong là 420.000, phía Pháp mất 200.000 người, còn thương vong phía Đức khoảng 500.000. Lực lượng liên minh chiếm được một số đất đai, nhưng họ chỉ tiến vào thêm được tối đa 12km.

9.6.09

Midway

(4-7/6/1942)

Kế hoạch chiến tranh của Hải quân Nhật

Đô đốc Isoruku Yamamoto, tổng tư lệnh hạm đội liên hợp Nhật, đã bị choáng váng bởi cuộc tập kích đường không ngày 18/4/1942 của 18 chiếc máy bay ném bom hạng trung B-25 do trung tá Doolittle chỉ huy. Những máy bay này cất cánh từ trên boong của tàu sân bay Hornet, được hỗ trợ bởi tàu sân bay Enterprise, cách Nhật Bản khoảng 650 hải lý. Những máy bay này tấn công Tokyo, Yokosuka, và một số vị trí khác. Chúng không gây nhiều thiệt hại về vật chất, nhưng ảnh hưởng mạnh đến tinh thần người Nhật, vốn đang rất hưng phấn sau vụ tập kích Trân Châu Cảng. Bởi nếu máy bay Mỹ có thể tấn công Tokyo, nó cũng có thể ném bom Hoàng cung, và có thể làm hại Nhật Hoàng. Đối với Yamamoto, hành động này phải được cứu vãn, đồng nghĩa với một trận chiến quyết định. Ngay từ tháng 3, Yamamoto đã tập trung thuyết phục bộ tổng tham mưu hải quân Nhật rằng kế hoạch tấn công các đảo Samoa và Fiji phải bị huỷ bỏ để tập trung vào đảo Midway ở trung tâm Thái Bình Dương.
Kế hoạch cho trận đánh được Yamamoto cùng bộ tham mưu của mình lập ra. Toàn bộ lực lượng của Hạm đội liên hợp sẽ được phái đến để giao chiến với Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ quanh Midway. Việc tấn công và chiếm Midway chỉ là mục tiêu phụ, mục tiêu quan trọng nhất là tiêu diệt toàn bộ lực lượng tàu sân bay của hải quân Mỹ, khi chúng được phái đến để tăng viện cho Midway. Việc triệt tiêu lực lượng tàu sân bay Mỹ đồng nghĩa với việc loại luôn Hải quân Mỹ khỏi cuộc chiến vì sau khi hầu như toàn bộ số thiết giáp hạm của Mỹ bị tiêu diệt ở Trân Châu Cảng, tàu sân bay là chỗ dựa cuối cùng cho hải quân Hoa Kỳ.
Lực lượng của hạm đội liên hợp gồm 7 thiết giáp hạm, 10 tàu sân bay, 24 tuần dương hạm, và hơn 70 khu trục hạm, được phân chia ra thành khoảng 6 hạm đội. Đô đốc Yamamoto sẽ chỉ huy Thành phần chính, gồm các thiết giáp hạm Yamato, Nagato, Mutsu, những thiết giáp hạm mạnh nhất của hải quân Nhật. Ngoài ra, còn có tàu sân bay hạng nhẹ Hosho, với 8 máy bay chống tàu ngầm và nhiều khu trục hạm.
Hạm đội hàng không thứ nhất do phó đô đốc Nagumo Chuichi chỉ huy. Hạt nhân sức mạnh là 6 tàu sân bay hạng nặng. 2 thiết giáp hạm, 2 tuần dương hạm hạng nặng và một hải đội khu trục hạm sẽ tạo thành vành đai bảo vệ lực lượng tàu sân bay. Đây sẽ là lực lượng chính thực hiện kế hoạch của Yamamoto. Kỳ hạm của Nagumo là tàu sân bay hạng nặng Akagi.
Lực lượng đột kích Aleutians, do phó đô đốc Hosogaya chỉ huy. Lực lượng của nó gồm tàu sân bay hạng nhẹ, Ryujo, và chiếc Junyo, một tàu chở khách được biến đổi thành tàu sân bay. 4 thiết giáp hạm, Ise, Hyuga, Fuso, Yamashiro cùng mội đội tuần dương hạm và thiết giáp hạm.
Đô đốc Kondo Nobutake sẽ chỉ huy hạm đội 2, gồm các thiết giáp hạm Kongo, Haruna, tàu sân bay hạng nhẹ Zuiho. Nhiệm vụ của ông ta là bảo vệ cho lực lượng đổ bộ dưới quyền chuẩn đô đốc Tanaka Raizo.
Đầu tiên, Hosogaya sẽ tấn công các cơ sở của hải quân Mỹ ở cảng Dutch, quần đảo Aleutian (tây nam bang Alaska) để nhử tàu sân bay Mỹ quay về bảo vệ Alaska. Tiếp theo là một đợt không kích từ những tàu sân bay của Nagumo vào Midway. Sau đó, Nagumo sẽ ở tại chỗ và đợi hải quân Mỹ đến. Lực lượng Nhật cũng sẽ chiếm một số đảo ở quần đảo Aleutian, và đảo Midway. Rồi Thành phần chính cùng với lực lượng hỗ trợ của Kondo sẽ đánh đắm bất cứ tàu chiến nào của Mỹ. Ngoài ra, Yamamoto hy vọng sẽ có thể giảm được quy mô của lực lượng Mỹ bằng cách thiết lập một vành đai tàu ngầm được triển khai phía tây bắc quần đảo Hawaii vào khoảng 1/6/1942.
Kế hoạch này được trình lên Bộ tổng tham mưu hải quân và được chấp nhận. Tuy vậy, lục quân muốn theo đuổi kế hoạch riêng của mình: chiến dịch MO.
Chiến dịch MO, chiếm đảo Tulagi và cảng Moresby trong vùng biển San hô, được sự hỗ trợ của 2 tàu sân bay hạng nặng Shokaku và Zuikaku. Đây là một sự phân chia nghiêm trọng lực lượng của Nagamo, 2 tàu sân bay này là 1/3 sức mạnh của Hạm đội hàng không số 1.
Sở dĩ đô đốc Yamamoto cho phép những tàu sân bay này tham gia MO vì ông tin rằng hải quân Mỹ đã hoàn toàn bị đánh bại và không thể phát động những chiến dịch lớn nữa. Nhưng ông đã lầm, trong trận hải chiến trên vùng biển San hô (8/5/1942), cả 2 chiếc tàu sân bay trên, cùng tàu sân bay hạng nhẹ Shoho, đã bị loại khỏi vòng chiến.

Trò chơi mật mã

Joseph Rochefort là chỉ huy của Văn phòng tình báo tác chiến. Đứng đầu một đội gồm những chuyên gia về toán, truyền thông, và mã hoá, Rochefort đã phá được mật mã của hải quân Nhật từ trước khi cuộc chiến bắt đầu và có thể đọc được ít nhất 10% nội dụng từ các bức điện của quân Nhật.
Trên lý thuyết, 10% là một con số nhỏ, nhưng với một người thông minh như Rochefort, chúng vẫn có thể có ích. Vào cuối tháng 4/1942, một số tín hiệu radio bị chặn lại và giải mã, nó cho thấy quân Nhật đang chuẩn bị cho một chiến dịch trong vùng biển San hô. Đô đốc Nimitz, tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương đã dựa vào những thông tin đó để chuẩn bị kế hoạch đối phó.
Trong khi mà lực lượng Nhật và Mỹ vẫn còn đang giao chiến với nhau ở biển San hô, các nhân viên của Rochefort nhận thấy một sự tăng vọt các tín hiệu radio của phía Nhật. Họ khám phá ra rằng một chiến dịch mới đang hình thành, và sẽ bao gồm tất cả các đơn vị hạm đội mà người Nhật có thể có. Trong các thông điệp của phía Nhật, có nhắc đến địa danh “AF”, mặc dù không có chứng cứ cụ thể, nhưng Phòng tình báo cho rằng, AF ám chỉ Midway. Tuy vậy, những sĩ quan cấp cao tin rằng, nếu ở Thái Bình Dương có một nơi nào đó đáng để tập trung một lực lượng lớn đến vậy thì đó chỉ có thể là Midway.
Để chứng minh, Rochefort sử dụng một mẹo nhỏ. Ông yêu cầu Midway gửi đi một thông điệp, qua sóng vô tuyến không mã hoá, rằng máy lọc nước biển gặp trục trặc. Và ngay sau đó, các nhân viên của Rochefort bắt được một bức điện có nội dung “AF gặp vấn đề với máy khử muối của mình”.
Những gì mà Phòng tình báo cung cấp cho Nimitz thật vô giá. Đầu tiên, ông biết rằng mục tiêu của Yamamoto là Midway. Thêm nữa, ông cũng biết về vành đai tàu ngầm mà Yamamoto sắp thiết lập, cho phép ông triển khai lực lượng một cách an toàn. Cuối cùng, ông có thể yên tâm tập trung tất cả lực lượng quanh Midway.

Những chuẩn bị cuối cùng

Sau khi chiếc tàu sân bay Lexington bị chìm ở biển San hô, trong tay Nimitz chỉ còn 3 tàu sân bay là Enterprise, Hornet, và Yorktown. Tuy nhiên, vấn đề là phó đô đốc Halsey “Bò hoang”, người chỉ huy tàu sân bay cự phách và can trường của hạm đội, lại bị ốm. Trong bệnh viện, Nimitz đề nghị Halsey cử người thay thế. Halsey chọn chuẩn đô đốc Raymond A.Spruance, là người chỉ huy đội tuần dương hạm bảo vệ cho Halsey, để chỉ huy trận hải chiến quan trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Vài ngày sau, đô đốc Fletcher cùng tàu sân bay Yorktown về đến Trân Châu Cảng sau thắng lợi ở biển San hô. Nhưng chiếc Yorktown bị hỏng khá nặng và phải cần đến 3 tuần để sửa chữa. Nimitz không thể đợi lâu như vậy, bằng mọi cách, Yorktown phải ra biển trước 30/5 để tránh vành đai tàu ngầm.
Với 1300 người tham gia, việc sửa chữa Yorktown hoàn thành trong thời gian kỷ lục. Tuy vậy, vẫn còn nhiều hạng mục chưa hoàn thành. Nimitz cũng yêu cầu Bộ tư lệnh tàu ngầm Thái Bình Dương (COMSUBPAC) triển khai 2 vành đai tàu ngầm ở tây và bắc Hawaii để hỗ trợ sự rút lui của hạm đội trong trường hợp họ thất bại ở Midway. Ông còn cho chuyển hầu hết số máy bay hiện có tới Midway. 28/5, đô đốc Spruance trên chiếc kỳ hạm Enterprise khởi hành, rời khỏi Trân Châu Cảng.
Ngày 1/6, tàu sân bay Saratoga rời cảng San Diego, California, hối hả hướng về Midway, hy vọng kịp tham gia trận đánh, nhưng nó đã không đến kịp.
Khoảng 2h40, ngày 3/6/1942, quân Nhật tấn công cảng Dutch, nằm ở điểm cuối cùng của Alaska. Không có đơn vị lớn nào ở đây, và căn cứ bị hư hại nặng. Một máy bay Zero của Nhật bị hư hại trong cuộc không kích đã rơi xuống một hòn đảo nhỏ không xa cảng Dutch. Viên phi công thiệt mạng, nhưng máy bay thì chỉ bị hư hại nhẹ. Tàu ngầm Nhật không thể xác định vị trí máy bay rơi, nhưng người Mỹ thì có, và họ đã khám phá ra nhiều điều từ chiếc Zero này.
Cách đó hàng trăm km về phía nam, những phi công ở căn cứ Midway cũng bắt đầu thức dậy. Nhưng phi cơ trinh sát cất cánh đi làm nhiệm vụ. Vào khoảng 9h sáng, lực lượng đổ bộ của chuẩn đô đốc Tanaka Raizo bị phát hiện. Một số máy bay từ Midway cất cánh và tấn công đội tàu này, nhưng không gây nhiều thiệt hại.
Những tàu sân bay Mỹ tiếp tục giữ nguyên vị trí ở phía bắc Midway, chờ đợi kẻ thù xuất hiện. Đô đốc Fletcher đưa chiếc Yorktown lại gần Midway hơn. Trận chiến lớn đang tới gần.

Trận hải chiến quan trọng nhất lịch sử thế giới hiện đại

Ngày 4/6/1942, trên đảo Midway, lúc 2h30 sáng, những đội bay bắt đầu thức giấc. Chỉ 15 phút sau, những đồng nghiệp bên kia chiếc tuyến của họ cũng đã sẵn sàng. Những phi công và nhân viên không lực thuộc Hạm đội hàng không số 1 bắt đầu tập trung trên boong tàu, chuẩn bị cho đợt không kích Midway.
4h30, những máy bay đầu tiên cất cánh khỏi sàn tàu sân bay, 108 chiếc từ 4 tàu sân bay cỡ lớn: Akagi (kỳ hạm), Kaga, Soryo, và Hiryu. Trước đó nửa giờ, các máy bay trinh sát của Nhật cũng được phóng đi, nhưng số lượng rất ít.
Gần 6h, tín hiệu về các máy bay Nhật bắt đầu hiện lên trên màn hình radar. Midway phóng đi tất cả các máy bay hiện có. Gồm 27 tiêm kích cơ do thiếu tá Floyd Parks chỉ huy, 6 máy bay phóng lôi, 4 máy bay ném bom hạng trung, 11 máy bay ném bom bổ nhào, 19 chiếc B-17, cùng 48 máy bay khác.
Phi đội của Thiếu tá Parks không thể ngăn chặn tốp ném bom của Nhật vì gặp những chiếc Zero đi hộ tống. 15 tiêm kích cơ Mỹ bị bắn hạ, và họ không thể bảo vệ Midway khỏi cuộc oanh tạc, nhiệm vụ đó giờ đây trông cậy vào các lực lượng phòng không mặt đất. Tổng số thiệt hại của phía Nhật trên vùng trời Midway là 15 chiếc, cùng khoảng 32 chiếc nữa bị hư hại. Phía Nhật đã ném bom phá huỷ nhiều cơ sở hạ tầng trên đảo, nhưng không thể ném bom bất cứ phi cơ nào vì người Mỹ đã kịp cho cất cánh toàn bộ.
Thậm chí ngay trước khi Midway bị tấn công, đô đốc Nagumo cũng đã gặp bất lợi khi vị trí của họ bị máy bay Mỹ phát hiện. Vào khoảng 5h53, thông tin này đã đến được với tàu Enterprise, Yorktown và Trân Châu Cảng.
Lúc 7h sáng, đợt tấn công của phía Mỹ vào các tàu sân bay Nhật bắt đầu. Tham gia lực lượng này chủ yếu là các máy bay cất cánh từ Midway và một số máy bay phóng lôi từ tàu sân bay Hornet. Họ bị những chiếc Zero của Nhật bao vây, bị hoả lực phòng không từ hạm đội Nhật bủa vây. Nhiều chiếc bị bắn rơi và hạm đội của Nagumo hầu như vô sự.
Nagumo quan sát cuộc tấn công đầu tiên của quân Mỹ từ đài chỉ huy mà không mấy ấn tượng. dù vậy, nó cũng khiến ông tin rằng cần phải ném bom Midway thêm một lần nữa. Nhưng cùng lúc đó, đô đốc Spruance, sau khi nhận được tin tức từ máy bay trinh sát, đã cho hạm đội của mình tiến về phía kẻ thù để giảm khoảng cách. Vào lúc khoảng 7h, khi mà các máy bay Nhật bắt đầu rời khỏi vùng trời Midway thì phía Mỹ tính toán nhanh rằng nếu họ phóng các máy bay của mình ngay bây giờ, họ có thể tấn công tàu sân bay Nhật khi mà những máy bay đang được lắp vũ khí trên boong, một tình thế rất hiểm nghèo cho phía Nhật. Vì vậy, cả Enterprise và Yorktown bắt đầu phóng đi các máy bay của mình, từ khoảng 7h đến 7h55. Chuẩn đô đốc Mitscher sẽ chỉ huy chiếc Hornet tác chiến độc lập.
Trong khi đó, Nagumo lại tiếp tục bị tấn công dồn dập. Mặc dù không bị hư hại gì, nhưng chúng càng khiến cho Nagumo tin chắc rằng, cần có thêm một cuộc không kích thứ hai nhằm vào Midway. Lúc 7h15, Nagumo ra lệnh vũ trang cho những máy bay của mình bằng bom thay vì ngư lôi. Lúc 7h30, máy bay trinh sát báo cho Nagumo biết rằng có khoảng 10 tàu chiến đang ở khu vực gần đó. Mặc dù khá lo lắng về sự hiện diện này, Nagumo vẫn tin rằng không lực từ đảo Midway vẫn là mối đe dọa lớn nhất, vì vậy, việc lắp bom vẫn được tiếp tục.
Sự yếu kém của trinh sát đã làm hại Nagumo khi mà phải mất 1 tiếng sau, họ mới xác định được những tàu chiến đó là tàu sân bay. Lúc đó là 8h20, Nagumo lo lắng thật sự, ông không còn nhiều thời gian. Vì vậy, lệnh mới được ban ra, người ta gỡ bom khỏi máy bay và thay thế nó bằng ngư lôi. Chính dưới áp lực thời gian và sự thay đổi liên tục như vậy, bom sau khi được gỡ ra đã không được chuyển vào khoang chứa mà vẫn để trên boong. Và đó là một sai lầm chết người của phía Nhật, những tàu sân bay của họ đang dần trở thành một thùng thuốc súng nổi.
9h17, Nagumo chuyển hướng sang những tàu sân bay Mỹ. Nhưng chỉ 1 phút sau, ông thấy mình đang đối mặt với một tốp máy bay phóng lôi của đối phương. Đó là những máy bay thuộc liên đội VT-8 từ chiếc Hornet, tuy vậy những máy bay cũ kĩ và nặng nề này không phải là đối thủ của Zero. Chỉ có 1 phi công trong đội máy bay đó sống sót, thiếu úy George Gay. (Ngày 31/8/1995, một phi đội máy bay đã rải một phần tro hài cốt của Gay xuống nơi mà những bạn đồng chí của ông đã hy sinh).
Ngay sau đó là VT-6 từ Enterprise. Họ đến ngay trước mặt tàu sân bay Nhật và chiếc Kaga được chọn là mục tiêu. Pháo phòng không trên tàu cùng những chiếc Zero kháng cự dữ dội. 10 chiếc máy bay phóng lôi Mỹ bị hạ, bao gồm cả chiếc của sĩ quan chỉ huy Lindsey. Chỉ hơn một phút sau, chiếc Akagi thấy một tốp máy bay nữa tới, liên đội VT-3 từ Yorktown, đơn vị duy nhất có tiêm kích cơ đi theo hộ tống. Một lần nữa, họ không thể chống chọi lại những chiếc Zero. Máy bay Mỹ cố tập trung tấn công chiếc Hiryu, nhưng không thành công. Chỉ có 2 chiếc máy bay phóng lôi có thể trở về tàu mẹ.
Dù vậy, những cuộc tấn công vô vọng của những máy bay phóng ngư lôi cũng có tác dụng làm chậm quá trình chuẩn bị của người Nhật và làm xáo trộn đội hình tiêm kích cơ bảo vệ hạm đội. Mọi chuyện thay đổi vào khoảng 10h25, 3 liên đội máy bay ném bom bổ nhào SBD từ tàu Enterprise và Yorktown xuất hiện. Chúng do thiếu tá Cluskey chỉ huy. Khi bay đến vị trí mà hạm đội Nhật được báo cáo lần cuối, Cluskey không nhìn thấy gì cả. Trong lúc nhiên liệu đã gần cạn thì ông bỗng nhìn thấy vệt sóng dài từ một khu trục hạm Nhật, chiếc Arashii, đang có nhiệm vụ rải mìn chống tàu ngầm. Phi đoàn máy bay Mỹ quyết định bám theo chiếc Arashii, và chẳng mấy chốc, Hạm đội hàng không số 1 đã trong tầm mắt. Những biện pháp vận động để né tránh trong những đợt tấn công trước đã khiến đội hình hạm đội Nhật xáo trộn, và làm giảm sự hỗ trợ lẫn nhau giữa chúng. Cluskey chia đội của mình làm hai. VB-6 sẽ tấn công chiếc Akagi, còn VS-6 tấn công Kaga. Người Nhật không có ấn tượng mạnh về những chiếc máy bay ném bom này, những đợt tấn công thất bại của người Mỹ trước đó khiến họ chủ quan. Nhưng người Nhật quên rằng những con tàu khổng lồ của họ đang là những thùng thuốc nổ, với những quả bom nằm la liệt trên boong, những chiếc máy bay gắn đầy đạn dược và đang được tiếp xăng đậu đầy chật trên sàn tàu.
Mỗi Cluskey kéo mũi máy bay xuống, tạo một góc 70 độ, hướng thẳng vào chiếc Kaga. Mặc dù quả bom của ông đã trận mục tiêu, nhưng một đồng đội phía sau đã thả bom trúng ngay vào một chiếc máy bay đang đậu ở phần đuôi đường băng, khiến sàn tàu bốc cháy. Ngay sau đó, một quả bom khác xuyên qua thang nâng ở phía trước, phát nổ ngay giữa những chiếc máy bay đang được tiếp xăng và vũ trang trong khoang chứa máy bay. Sức nổ của nó làm vỡ tung những cửa sổ trên đài chỉ huy. Quả bom thứ ba kích nổ một chiếc xe bồn đậu ngay trước đài chỉ huy. Vụ nổ tiếp sau đó giết chết thuyền trưởng cùng các sĩ quan chỉ huy. Con tàu hoàn toàn mất điều khiển. Ngọn lửa bùng lên không thể kiểm soát nổi. Đến 17h, lệnh bỏ tàu được ban ra.
Chiếc akagi cũng trong tình cảnh tương tự. Quả bom đầu tiên đánh trúng thang nâng giữa, kích nổ số đạn dược chưa được cất. Quả thứ hai đánh vào những máy bay đang được vũ trang, kích nổ toàn bộ số đạn dược gắn trên chúng. Boong tàu Akagi chìm trong một loạt vụ nổ liên hoàn. Động cơ tàu ngừng hoạt động lúc 10h40. Đô đốc Nagumo rời chỉ huy sở đang bốc cháy của mình lúc 10h46, lệnh bỏ tàu được ban bố. Thuyền trưởng Aoki là người cuối cùng rời tàu, lúc 3h sáng ngày 5/6.
Chiếc Soryu bị trúng 3 quả bom, rải đều từ mũi tàu đến đuôi tàu, phá huỷ hầu như toàn bộ thang nâng, máy bay, bom đạn. Ngọn lửa dữ dội đến mức cánh cửa thép ở khoang chứa phải tan chảy. Con tàu ngừng hoạt động lúc 10h40. Thuyền trưởng Yanagimoto tự vẫn. Khoảng 19h20, con tàu chìm hoàn toàn.
Lúc này, phía Nhật chỉ còn duy nhất một tàu sân bay có thể hoạt động, là chiếc Hiryu. Vào khoảng 11h, Hiryu phái đi 18 chiếc máy bay ném bom, hộ tống bởi 6 tiêm kích cơ, để trả thù. Vào khoảng giữa trưa, những máy bay này tiến sát chiếc Yorktown, lúc này cũng đã phát hiện người Nhật qua radar (một kỹ thuật mới mà Nhật chưa có). Do đó, đội phi cơ tiêm kích của Mỹ kịp bay lên và chặn đánh, bắn rơi hầu hết máy bay ném bom Nhật. Nhưng vẫn có 7 chiếc thoát qua được. Và chiếc Yorktown bị trúng 3 quả bom, 5 lò hơi ngừng hoạt động, và vận tốc con tàu cũng giảm xuống mức chỉ khoảng 6 hải lý/h. Nhưng thủy thủ đoàn của Yorktown cũng đã kịp sửa chữa và phục hồi vận tốc con tàu ở mức 20 hải lý/h. Máy bay có thể hạ cánh, và tốp tiêm kích cơ thứ hai kịp xuất phát. Nhưng chiếc Hiryu cũng phái đi một đội thứ hai, gồm 10 máy bay phóng lôi và 6 tiêm kích cơ. Thuyền trưởng chiếc Yorktown, Buskmaster đã từng tránh thành công tất cả các ngư lôi trong trận chiến biển San Hô, nhưng lần này, chiếc Yorktown bị trúng 2 quả ngư lôi. Con tàu càng ngày càng bị nghiêng, buộc Buckmaster phải ra lệnh bỏ tàu, vào khoảng 15h.
Nhưng người Mỹ mới là những người có tiếng nói cuối cùng trong ngày này. Từ trên chiếc Enterprise, 24 máy bay ném bom, nhiều chiếc được chuyển từ Yorktown sang, cất cánh tấn công chiếc Hiryu. Lúc 14h50, Hiryu bị máy bay trinh sát phát hiện. 13 máy bay ném bom tấn công Hiryu khi những phi công của nó đang ăn, 11 chiếc khác tấn công những thiết giáp hạm hộ tống. Hiryu bị trúng liên tiếp 4 quả bom. Boong tàu hoàn toàn bị phá huỷ, khoang chứa máy bay chìm trong biển lửa. Nhưng phần dưới con tàu vẫn chưa bị ảnh hưởng, và nó vẫn có thể lao đi với vận tốc 30 hải lý/h. Tuy vậy, ngọn lửa cũng nhanh chóng ln xuống dưới, khiến động cơ ngừng hoạt động. Thủy thủ đoàn rời tàu vào khoảng 3h15 sáng hôm sau, 5/6.
Trong khi cả 4 chiếc tàu sân bay của Nhật hoàn toàn bị đánh chìm, thì chiếc Yorktown dường như vẫn còn có thể được cứu. Đô đốc Fletcher phái một đội tàu cứu hộ đến kéo Yorktown về Trân Châu Cảng, thuyền trưởng Buckmaster cùng một thủy thủ nhỏ cũng đã quay trở lại tàu. Nhưng một chiếc tàu ngầm Nhật, chiếc I-168 đã lọt qua được vành đai bảo vệ gồm 4 khu trục hạm để đánh đắm chiếc Yorktown cùng một tàu hộ tống, chiếc Hammann vào chiều ngày 6/5.
Đô đốc Yamamoto, trong một nỗ lực cuối cùng để tìm kiếm một điều gì đó, đã ra lệnh pháo kích Midway. Nhiệm vụ này được giao cho đô đốc Kurita, chỉ huy hải đội tuần dương hạm mới nhất và nhanh nhất Nhật Bản. Nhưng vào lúc 0h sáng ngày 5/6, Yamamoto rút lại lệnh của mình. Khi đang trên đường quay về, Kurita phát hiện một tàu ngầm Mỹ, ông ra lệnh tất cả các tàu rẽ ngoặt một góc 45 độ để tránh. Trong quá trình vận động, 2 tuần dương hạm hạng nặng Mogami và Mikuma va chạm với nhau, khiến chúng không thể đi nhanh được.
Sang ngày 6, máy bay từ Enterprise và Hornet phát hiện ra 2 chiếc này và tấn công dồn dập. Chiếc Mikuma bị đánh chìm, còn Mogami bị hỏng nặng.

Kết quả

Trận chiến Midway đã kết thúc, thiệt hại cho phía Nhật hết sức nặng nề. 4 tàu sân bay hạng nặng, 1 tuần dương hạm, 272 máy bay, 100 phi công, 3400 thủy thủ, 3 thuyền trưởng hàng không mẫu hạm đầy kinh nghiệm cùng một đô đốc, bí mật của loại máy bay Zero. Tổn thất của phía Mỹ gồm 1 tàu sân bay và 1 khu trục hạm cùng khoảng 150 máy bay. Giờ đây cán cân lực lượng lại chuyển sang phía người Mỹ, ngay sau trận chiến, Nhật chỉ còn 2 tàu sân bay hạng nặng, còn của Mỹ là 4. Số phi công Nhật thiệt mạng tương đương với số mà nước Nhật có thể đào tạo trong 1 năm. Việc khám phá ra bí mật của chiếc Zero cho phép người Mỹ chế tạo thành công chiếc F6F Hellcat, mà chỉ 1 năm sau đã bắt đầu chấm dứt sự thống trị trên không của người Nhật. Quan trọng hơn, trận chiến Midway đã làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, quyền chủ động tấn công giờ đây đã thuộc về người Mỹ.

18.5.09

Cuộc chiến Falkland - P3

Cuộc chiến lớn trên bộ bắt đầu vào ngày 21/5, khi 1000 lính thủy đánh bộ Hoàng gia đổ bộ lên đảo Đông Falkland. Với lực lượng tăng viện, họ dựng nên công sự trên bờ biển đầu tiên của quân Anh, gần khu dân cư nhỏ xíu tên là Port San Carlos, trên bờ biển phía tây của đảo. 5 tàu của Anh bị hư hại nặng trong cuộc đổ bộ,bao gồm khinh hạm Ardent, sau đó bị chìm, làm 22 người chết.
Từ 21 đến 25 tháng 5, Argentina và Anh giao tranh dữ dội trên không và trên bộ. Tổng cộng, phía Anh mất 5 trong số 40 phi cơ Harrier, cả 5 phi công đều thiệt mạng. Phía Argentina mất hơn 2 tá A-4 Skyhawk và Mirage vì tên lửa Sidewinder, Rapier, Blowpipe phóng từ máy bay, tàu chiến và mặt đất. Khinh hạm Antelope của Anh bốc cháy và bị bỏ lại ngày 23/5.
Trận không-hải chiến chính diễn ra ngày 25/5, nay là ngày lễ của Argentina. Phi công Argentina xuất kích những phi vụ mà sau này được so sánh với những cuộc tấn công cảm tử của đội Kamikaze, Nhật Bản, đánh chìm khu trục hạm Coventry, và tàu vận tải Atlantic Conveyor. 24 thủy thủ Anh thiệt mạng.
Cuộc chiến trên bộ: đến cuối tháng 5, sự chú ý chuyển sang cuộc chiến trên bộ. Quân Anh rời khỏi công sự tại Port San Carlos và chiếm lại Darwin, Goose Green. Cùng lúc, một số lớn quân tăng viện tới ngoài khơi quần đảo, bao gồm 3000 lính di chuyển tới Falkland bằng chiếc du thuyền sang trọng Queen Elizabeth 2, vốn đã được chính phủ Anh trưng dụng vào đầu tháng 5. Trên tàu QE2 là Lữ đoàn bộ binh số 5, bao gồm những đon vị kỳ cựu: Vệ binh Scotland, Vệ binh xứ Wales, và đơn vị Gurkha.
Suốt đầu tháng 6, phía Anh chuyển đại pháo, súng cối, và những thiết bị khác lên vùng đất cao gần Stanley, và tàu chiến tiếp tục rót đạn pháo vào các vị trí của quân Argentina. Những đơn vị biệt kích tinh nhuệ của Anh di chuyển ngang qua hòn đảo từ Darwin, Goose Green tới chiếm lĩnh những vị trí gần Stanley, xuyên qua bão tuyết, địa hình lởm chởm, và sự tiếp tế không đầy đủ.
8/6, với chiến thắng đã trong tầm tay, người Anh lại chịu cuộc phản công đầy tính coi thường nhất của Argentina. Từng đợt,từng đợt máy bay Skyhawk, Mirage tấn công những vị trí mới được thiết lập của Gurkha và Vệ binh ở Bluff Cove và Fitzroy, 15 dặm về phía tây nam của Stanley. Trong đợt không kích, một tàu chở lính, chiếc Sir Galahad, đang di chuyển binh lính từ cảng San Carlos, bị hỏng nặng, 50 người chết, 57 bị thương. Một chiếc khác, chiếc Sir Tristam, cũng bị hư hại. Phía Anh nói họ đã bắn rơi 11 máy bay Argentina.
Bắt đầu bằng một cuộc tấn công bất ngờ đêm 11, rạng sáng 12/6, những đơn vị Gurkha và Vệ binh dày dặn trận mạc tiến về Stanley, băng qua vài dặm còn lại. 14/6, lính Anh bắt đầu tiến vào thủ phủ Stanley, Chuẩn tướng Mario Benjamin Menendez đầu hàng Thiếu tướng Jeremy Moore, tư lệnh lực lượng trên bộ của Anh. Điện báo chiến thắng của Moore viết “Quần đảo Falkland một lần nữa trở lại với chính phủ mà được mong muốn bởi cư dân của nó. Cầu chúa phù hộ nữ Hoàng”.
Sau này, những nhà phân tích cho rằng nước Anh nợ chiến thắng của họ đối với những đơn vị tinh nhuệ Gurkha, Vệ binh Scotland, Vệ binh xứ Wales, khi họ đã mở một cuộc tấn công rất ác liệt vào một vị trí pháo binh của Argentina trông xuống Stanley. Những cuộc phỏng vấn lính Argentina sau đó đã xác định, chìa khoá cho chiến thắng của Anh là do những đơn vị kinh nghiệm của nước này đụng với một đội quân khố rách áo ôm của những tân binh trẻ, được huấn luyện kém của Argentina. Những binh lính Argentina sau này cay đắng kể cho những phóng viên họ đã phải chui rúc trong chiến hào trong thời tiết băng giá như thế nào khi không có ủng cao su, và cố gắng một cách vô ích để nhóm lửa với dầu hoả đã bị pha loãng với nước bởi những tên đầu cơ chiến tranh ở Argentina. quần áo ấm , thực phẩm, đạn dược cũng thiếu thốn. Sau chiến tranh, theo những nhà báo Anh, binh lính Anh tìm thấy một nhà kho tại Stanley chứa đầy ủng cao su, dầu hoả, và đạn dược.

Tổn thất: Trong suốt cuộc chiến, 2 bên đưa ra rất nhiều báo cáo khác nhau về tổn thất, và có thể sẽ chẳng ai có thể khẳng định con số chính xác. Nhưng theo ước đoán gần nhất thì số thiệt hại nhân mạng về phía Anh là 260, và phía Argentina là 800.
Phía Anh công bố đã tiêu diệt 74 máy bay Argentina. Anh mất 5 tàu chiến: khu trục hạm Coventry và Sheffield, khinh hạm Ardent và Antelope, tàu vận tải Atlantic Conveyor. Một số khác bị hư hỏng khá nghiêm trọng. Argentina mất 5 tàu : tuần dương hạm Tướng Belgrano, tàu tiếp tế Isla de los Estados, tàu ngầm Santa Fe, một tàu tuần tiễu không tên, và một tàu đánh cá Narwal ( bị nghi là đang do thám).

Phân tích: Trong khi tìm kiếm những bài học từ chiến tranh, cuộc tranh luận sôi nổi nhất là những có phải trận giao chiến trên biển chỉ ra rằng tốt hơn là nên có một số lượng lớn hơn những con tàu nhỏ hơn chứ không phải một số ít hơn những con tàu lớn hơn. Một số chuyên gia biện luận rằng nếu một tên lửa Exocet trị giá 200.000 dollar có thể phá hủy một khu trục hạm 50 triệu dollar như chiếc Coventry thì một vũ khí tương tự có thể phá hủy một tuần dương hạm trang bị hệ thống Aegis trị giá 1 tỷ dollar của hải quân Mỹ, một chiếc tàu cũng có nhiều cấu trúc làm bằng nhôm ( trên thực tế, hiện nay các tàu của Hải quân Mỹ đều không còn sử dụng nhôm).Những người này nói tốt hơn là nên chế tạo nhiều hơn những chiếc tàu rẻ hơn, thay vì những chiếc kiểu Aegis hay tàu sân bay lớn.
Những người khác lại phản bác rằng những tổn thất của Hải quân Anh đã không xảy ra nếu họ có một loại tàu sân bay lớn (như lớp Nimitz của Mỹ) để bảo vệ hạm đội bằng những tiêm kích cơ F-14, máy bay cảnh báo sớm và radar. Nhớ đó, có thể phát hiện và phá hủy phi cơ đối phương rất lâu trước khi nó kịp khai hỏa.
Tuy vậy, bài học chung nhất có thể rút ra từ cuộc chiến Falkland là lòng dũng cảm và sự yếu đuối của con người vẫn là chìa khoá của thành công hay thất bại kể cả trong thời đại kỹ thuật cao.

4.5.09

Cuộc chiến Falkland - P2

Cuộc tấn công của người Anh:
Ngày 25/4, một lực lượng gồm trực thăng vũ trang và những đơn vị chiến đấu Anh tấn công lực lượng Argentina ở South Georgia. Tại cảng Grytviken, trực thăng Anh tấn công tàu ngầm Santa Fe, lúc đó đang thả lính tăng viện trong vịnh. Một phi công Anh đã đánh đắm con tàu ngầm bằng 3 quả tên lửa. Trên cạn, sau một cuộc đọ súng ngắn, quân Anh bắt giữ 194 tù binh Argentina, bao gồm 38 công nhân xây dựng trước đó, và người Anh giành lại quyền kiểm soát South Georgia.
Trận chiến đầu tiên trên 2 đảo chính Đông và Tây Falkland diễn ra ngày 1/5, khi những chiến đấu cơ Harrier và máy bay ném bom Vulcan (được tiếp dầu trên không trong hành trình từ đảo Ascension, một kỷ lục với một chuyến ném bom) của Anh oanh tạc dữ dội sân bay tại Stanley và Goose Green.
Trận không chiến đầu tiên cũng diễn ra ngày 1/5, khi một nhóm máy bay Mirage và máy bay ném bom Canberra của Argentina tấn công và làm hư hại nhẹ 2 tàu chiến Anh. Một phi công Anh lái phi cơ Harrier được gửi đến để giao chiến với Mirage sau này kể lại anh ta đã phóng một tên lửa không đối không Sidewinder của Mỹ vào một máy bay Argentina như thế nào “ Sau khoảng 3 đến 4 giây, tên lửa súng mục tiêu. Có một tiếng nổ khủng khiếp, và tôi cảm thấy muốn bệnh”. Trong suốt cuộc chiến, phía Argentina chịu thiệt hại rất lớn về số máy bay vì sự vượt trội về tên lửa phòng không, cả không đối không và đất đối không, trong kho vũ khí của Anh.
Sự kiện đẫm máu nhất cuộc chiến diễn ra ngày 2/5, khi một tàu ngầm Anh, chiếc Conqueror, phóng 2 quả ngư lôi điều khiển bằng dây vào thân tàu của tuần dương hạm Tướng Belgrano. Trong hơn 1000 người đang ở trên tàu, hơn 320 người chết trong nước biển lạnh cóng, số còn lại được những tàu gần đó cứu.
Sự kiện đó đã làm Argentina choáng váng, nhưng chỉ 2 ngày sau, người Anh cũng phải nếm trải sự khủng khiếp của chiến tranh. Ngày 4/5, một phi công Argentina bay trên chiếc máy bay lỗi thời Super Etendard phóng một tên lửa điều khiển bằng radar Exocet(Pháp) từ khoảng cách 20 dặm trúng và làm hư hại rất nặng khu trục hạm Sheffield của hải quân Anh. 20 người chết, 24 người khác bị phỏng nặng. Theo một số báo cáo sau này, tàu Sheffield bị hỏng nặng là do tên lửa đã bắt cháy vào phần cấu trúc bên trên bằng nhôm của tàu. Sực việc này sau đó đã dẫn đến những tranh cãi lớn giữa những nhà quân sự liệu việc sử dụng nhôm thay cho thép ở một phần cấu trúc trong những con tàu chiến hiện đại có khiến nó trở nên dễ tổn thương hơn không ? Chính phủ Anh sau đó tuyên bố Sheffield được chế tạo từ nhôm và thép, nhưng không chứa nhiều nhôm như báo chí ban đầu đã nói. Cùng ngày, không quân Anh tiếp tục oanh tạc sân bay ở Stanley. Một máy bay Harrier bị bắn rơi, phi công bị thiệt mạng.Cùng lúc, một số tàu chiến Anh tiến gần Falkland và pháo kích bờ biển gần Stanley với pháo 4,5 inch. Trong vài tuần kế tiếp , lực lượng Anh và Argentina còn nhiều lần giao chiến trên không và trên biển, và quân Anh tấn công một kho quân sự nhỏ tại Pebble Island, phá hủy 11 máy bay, loại có khả năng hạ cánh trên đường băng ngắn và đầy cỏ trên đảo. Cả 2 bên đều chịu những tổn thất nhất định.

(còn tiếp)

25.4.09

Cuộc chiến Falkland

Một cuộc xung đột kỳ lạ trên khu vực Nam Đại Tây Dương, khi nước Anh và Argentina lao vào một cuộc chiến trên khu vực đảo Falkland, một thuộc địa của Anh.
Sự đối địch bắt đầu 19/3/1982, khi 60 công nhân Argentina được một tàu chiến của nước này thả lên một hòn đảo be tí gọi là South Georgia ,một nơi hầu như không có người ở, cách bờ biển Argentina 1200 dặm, và là một phần của Falkland. Những công nhân mau chóng tháo dỡ một trại săn cá voi bỏ hoang để tận dụng sắt thép, rồi họ giương ngọn cờ trắng-xanh lơ của Argentina. Chỉ một hành động đơn giản đó thôi nhưng đã kích hoạt một cuộc chiến giữa Liên hiệp Anh và Argentina, mà đã cướp đi mạng sống của hơn 1000 người, làm thiệt hại mỗi bên hàng tỷ dollar, mà cho phần còn lại của thế giới những cái gì ớn lạnh về những gì có thể xảy ra trong một cuộc chiến quy ước ở thời đại kỹ thuật cao này. Sau “cuộc chiến nhỏ đẫm máu” này, những lãnh đạo quân sự đã bắt đầu viết lại những cuốn sách giáo khoa về chiến tranh, trong khi những chuyên gia tranh cãi về thành công, thất bại của những vũ khí cũng như chiến thuật tại Falkland.
Quần đảo Falkland bao gồm khoảng 200 hòn đảo ở Nam Đại Tây Dương, ngoài khơi nơi tận cùng của lục địa Nam Mỹ, một nơi khét tiếng vì cái lạnh khủng khiếp, biển động dữ dội, và đất đai cằn cỗi. Đảo Đông và Tây Falkland, những hòn đảo lớn nhất, cách bờ biển khoảng 300 dặm.
Dân cư của đảo gồm khoảng 2000 người, hơn 600.000 con cừu, và 10 triệu con chim cánh cụt. Nuôi cừu là ngành kinh tế chính.Người dân ở đây chủ yếu có nguồn gốc Anh.
Anh và Argentina đã tranh chấp nhau vùng đảo này từ gần 150 năm qua. Quần đảo được phát hiện năm 1592 bởi nhà hàng hải Anh John Davids. Người Anh, Pháp,Tây Ban nha đã định cư ở đó vào những lúc khác nhau. Argentina tuyên bố chủ quyền sau khi giành được độc lập từ TBN đầu thế kỷ 19. 1832, quân Anh đổ bộ lên đảo và tuyên bố chủ quyền đối với nó. Từ đó, Argentina liên tục đòi hỏi chủ quyền của họ ở đó, và người Anh cũng dần đồng thuận. Những cuộc đàm phán để chuyển giao đảo cho Argentina bắt đầu từ những năm 60, nhưng đã bị đóng băng do người dân Falkland mong muốn được tiếp tục là công dân Anh.
Sau sự kiên công nhân Argentina đổ bộ lên đảo, nhà đương cục Anh ở đây thông báo rằng những hành động như vậy là phi pháp, và yêu cầu những người này rời đảo, hoặc xin phép chính thức nếu muốn ở lại. Mặc dù một số công nhân rời đi, phần lớn vẫn ở lại. Thủ tướng Anh Margaret Thatcher đưa ra một sự phản đối ngoại giao mạnh mẽ, tàu phá băng Endurance, đang ở Nam Đại Tây Dương, đã tiến sát South Georgia như một sự thị uy.
Đến cuối tháng 3, trên các phương tiện truyền thông tràn ngập thông tin về những căng thẳng ngày càng dâng cao giữa Argentina và Anh. Những tàu của Argentina được thông báo là đang tiến về Falkland, về giới chức trên đảo lo rằng một cuộc xâm lăng sắp xảy ra. Những quan sát viên quân sự khắp nơi trên thế giới theo dõi sát sao tình hình.Nó hứa hẹn sẽ là một cuốn sách giáo khoa về chiến tranh giữa những lực lượng quân sự khá cân bằng với những vũ khí hiện đại, và là cuộc giao tranh trên biển-trên không lớn đầu tiên kể từ sau Đệ nhị thế chiến. Mặc dù nước Anh có quân đội lớn hơn khá nhiều và vũ khí cũng có vẻ hiện đại hơn, nhưng Argentina lại có một lợi thế rõ rệt về địa lợi, chiến trường nằm ngay sân nhà của họ, trong khi cách London 8000 dặm. So sánh về trang bị, hạm đội Anh có 2 tàu sân bay : Invincible và Hermes, Argentina có 1 : Veinticinco de Mayo. Anh có phản lực cơ Harrier trên tàu sân bay, Argentina có A-4 (Mỹ) và Mirage (Pháp). Anh có máy bay ném bom Vulcan, Argentina có Canberra. Cả 2 gần như tương đương nhau về trực thăng, khu trục hạm, tuần dương hạm, khinh hạm.
Tại Lầu Năm Góc , Lực lượng phản ứng nhanh (RDF)đặc biệt quan tấm đến quá trình cuộc chiến, vì khoảng cách địa lý mà phía Anh phải đối diện cũng tương tự từ Mỹ đến Vùng Vịnh, một nhiệm vụ mà RDF sẽ phải gánh vác.

Cuộc xâm lăng của Argentina
2/4/1982 ,một đơn vị khoảng 1000 lính Argentina bất thần tràn từ bờ biển vào gần thủ phủ Stanley của đảo và tấn công một trại lính , nơi có khoảng 70 đến 80 lính thủy quân lục chiến Hoàng gia. Theo phía Anh, sau một cuộc chạm súng dữ dội, thủy quân lục chiến đã tiệu diệt 5 lính Argentina , làm bị thương 17, phá huỷ một xe bọc thép, còn phía Argentina thông báo 1 chết,2 bị thương. Số thủy quân lục chiến bị bắt sau 3 giờ rưỡi đấu súng, không có thương vong nào. Trong ngày đầu tiên đó, Argentina đã đổ 4000 lính lên đảo.
3/4/1982, biệt kích Argentina tràn lên South Georgia, nơi họ đụng độ với một nhóm nhỏ lính thủy đánh bộ Anh, được gởi đến để đuổi những công nhân xây dựng Argentina còn ở lại. Trong cuộc chiến ở cảng Grytviken, phía Anh thông báo đã tiêu diệt 2 trực thăng và giết từ 10 đến 15 lính Argentina, phía Argentina thông báo có 3 thương vong. Một lần nữa, lính Anh bị bắt mà không có thương vong nào.
Xuyên suốt cuộc chiến Falkland, thế giới biết về cuộc chiến chỉ thông qua những tuyên bố của Anh và Argentina. Không như những cuộc chiến khác, không có một phóng viên của một nước không tham chiến nào có mặt tại Falkland. Sau cuộc chiến, một số phóng viên Anh,những người được phép đi cùng với binh sĩ, đã tiết lộ những chi tiết mà đã được bảo mật trong thời gian chiến sự, họ thậm chí phỏng vấn cả những người lính Argentina trở về từ chiến tranh.

Trả đũa
Ngày 5/4, đội tiên phong của hạm đội liên hợp Anh, bao gồm 2 tàu sân bay Invincible và Hermes, bắt đầu hướng tới Falkland, chở theo từ 5000 đến 6000 lính.Anh sử dụng đảo Ascension , ở khoảng giữa từ Anh tới Falkland, như một điểm tập trung quân.
Ngày 7/4, phía Anh tuyên bố từ ngày 12/4, chiến hạm của nước này sẽ phong toả một vùng biển có bán kính 200 dặm kể từ đảo Falkland. Hải quân Hoàng gia cảnh báo rằng những tàu ngầm hạt nhân của họ sẽ đánh đắm bất cứ con tàu nào của Argentina tìm cách xâm nhập vùng cấm. Argentina ngay lập tức phản ứng bằng cách rút toàn bộ hạm đội của mình về những cảng trong đất liền. Những con tàu của họ không bao giờ dám thật sự thách thức vòng phong toả đó.
Những nhà phân tích sau đó đã kết luận rằng chính khoảng thời gian trong tháng tư là bước ngoặt trong quá trình chuẩn bị chiến tranh, khi mà những tư lệnh của Argentina phạm những sai lầm tai hại. Trong khi mà hạm đội Anh đang Nam tiến, những đơn vị Argentina đã cố gắng và thất bại trong việc mở rộng những đường băng ở những sân bay thô sơ ở Stanley và Goose Green để có thể tiếp nhận những máy bay lớn như Skyhawk của Mỹ và Mirage, Super Etendard của Pháp. Binh lính sau này than phiền là những chỉ huy của họ không biết gì về kỹ thuật xây dựng.
Thiếu những đường băng tương xứng, Argentina đã không bao giờ có thể thực hiện được những phi vụ không kích quy mô nhắm vào hạm đội Anh từ Falkland. Thay vào đó, máy bay của họ phải bay từ những sân bay ở đất liền rồi quay về trong một quãng đường hơn 600 dặm. Do đó, phía Anh chỉ cần giữ hạm đội của mình ngoài tầm hoạt động của A-4 hay Mirage, rồi từ đó họ phóng ra hết đợt này đến đợt khác những cuộc oanh tạc nhắm vào đảo. Sau này, khi giao tranh xảy ra trên đất liền, lính Argentina cũng nhận được rất ít yểm trợ từ trên không, do những phi công của họ, bay từ đất liền ra, có rất ít thời gian bay phía trên đảo, trước khi phải quay về.
Giữa tháng 4, cả 2 bên đều hung hăng vận động lực lượng, khí tài đến khu vực chiến sự. Tàu sân bay Veinticinco de Mayo rời quân cảng Puerto Belgrano tiến về Falkland, cùng với 3 tàu ngầm, 1 tuần dương hạm, 2 khu trục hạm và một số tàu khác.Tàu của Argentina chủ yếu ở ngoài khu vực phong toả của người Anh. 22/4, con tàu đầu tiên của hạm đội Anh tiến vào khu vực chiến sự. Sáng đó, một đơn vị lính Anh bí mật đổ bộ lên South Georgia để trinh sát, 2 trực thăng của Anh bị rơi trong một trân bão tuyết trong chiến dịch đó, tất cả nhân viên phi hành đoàn được cứu, và tai nạn đã không được thông báo mãi đến 3 tuần rưỡi sau.

(còn tiếp)