Showing posts with label Phòng không. Show all posts
Showing posts with label Phòng không. Show all posts

15.6.09

THAAD và hành trình 10 năm





Ngày 10/6 vừa qua là kỷ niệm 10 năm ngày hệ thống THAAD lần đầu đánh chặn thành công mục tiêu của mình, một tên lửa đạn đạo. THAAD viết tắt cho Hệ thống phòng thủ tên lửa giai đoạn cuối tầm cao cho khu vực lớn.

Đúng như tên gọi của nó, THAAD là hệ thống phòng không cơ động chuyên dùng để bắn chặn tên lửa đạn đạo tầm gần và tầm trung trong giai đoạn cuối của chúng. Như đã biết, tên lửa đạn đạo có 3 giai đoạn: giai đoạn đầu khi nó vừa rời bệ phóng, giai đoạn giữa khi tên lửa rời bầu khí quyển và di chuyển trong không gian và giai đoạn cuối khi tên lửa quay trở lại bầu khí quyển.

Tuy vậy, THAAD khác với Patriot PAC-3 ở chỗ tuy chúng cùng bắn chặn tên lửa ở giai đoạn cuối, THAAD có tầm bắn xa hơn nhiều, lên tới 200km, so với 20km của PAC-3. Nó có thể bắn chặn tên lửa ngay từ bên ngoài bầu khí quyển. Do đó, THAAD dùng để bảo vệ một khu vực rộng lớn, còn PAC-3 bảo vệ một mục tiêu cụ thể. Cho tới này, THAAD là hệ thống phòng không duy nhất có thể tấn công mục tiêu cả bên trong và bên ngoài bầu khí quyển.

Một hệ thống THAAD gồm radar băng tần X, trung tâm chỉ huy, giàn phóng di động và tên lửa. Radar của THAAD có thể phát hiện mục tiêu từ khoảng cách 1000km. Thông tin được chuyển đến trung tâm chỉ huy, đặt trên 1 chiếc Humvee. Nó có thể phối hợp hoạt động của THAAD với các hệ thống phòng không khác. Mỗi giàn phóng có thể chứa 10 tên lửa, và có thể được không vận bằng máy bay C-130. Thời gian để nạp lại tên lửa là 30 phút. Bản thân tên lửa dài 6.17m, nặng 900kg, trang bị đầu dò hồng ngoại.

THAAD còn gắn với một công nghệ đặc biệt: tiêu diệt mục tiêu bằng động năng. Thông thường các tên lửa phòng không đều có một đầu đạn chứa thuốc nổ, khi đến gần mục tiêu, nó sẽ kích nổ và tiêu diệt hoặc làm hư hại mục tiêu. THAAD hoàn toàn không chứa chất nổ và tiêu diệt mục tiêu bằng cách lao thẳng vào nó. Điều này đòi hỏi một độ chính xác tuyệt đối, nhưng bù lại tên lửa sẽ rất gọn nhẹ, tiết kiệm được trọng lượng và không gian.

Điều trùng hợp là ngày 10/6 cũng là kỷ niệm 25 năm ngày công nghệ này lần đầu thành công trong việc tiêu diệt một tên lửa đạn đạo, cũng do hãng Lockheed Martin, hãng chế tạo THAAD, thực hiện. Công nghệ tiêu diệt bằng động năng đã mở ra một chương mới trong khái niệm phòng thủ tên lửa. Sau buổi thuyết trình giới thiệu công nghệ này lần đầu, các tướng lĩnh đã trực tiếp đến gặp những kỹ sư để cảm ơn vì nếu không có nó, họ buộc phải dùng đầu đạn hạt nhân trong hệ thống phòng thủ tên lửa (như hệ thống SDI).

Trong hình, tên lửa để lại một cuộn khói hình xoắn ốc là do tầm bắn của nó quá lớn so với căn cứ thử nghiệm vũ khí, do đó khi vừa rời giàn phóng, nó sẽ bay theo hình xoắn ốc như vậy trước để đốt bớt năng lượng và giảm nguy cơ nó rơi ra ngoài khu quân sự.

17.5.09

NBS -Tấm khiên trên không



Ngày 13/5 vừa qua, quốc hội Đức chấp thuận việc mua 2 hệ thống NBS với giá 185 triệu dollar. NBS là một hệ thống C-RAM của hãng Rheinmetall AG cũng của Đức, được phát triển lên từ hệ thống Skyshield. C-RAM là tên gọi chung của những hệ thống phòng không tầm gần chuyên chống lại hỏa tiễn, pháo, pháo cối. Hiện hệ thống được sử dụng rộng rãi nhất là Phalanx của Anh, Mỹ.

Một hệ thống của nó gồm 1 trạm điều khiển, 2 trạm cảm biến gồm radar và thiết bị quang điện tử, và 6 ụ súng 35mm. Toàn bộ hệ thống có mức độ tự động hóa cao, đây là đặc điểm chung của các C-RAM, vì nó chống lại các mục tiêu có tốc độ rất cao và ở tầm gần. Người vận hành hầu như chỉ có nhiệm vụ giám sát tình trạng chung, việc phát hiện và tiêu diệt mục tiêu diễn ra tự động. Nó còn có thể được kết nối vào các hệ thống phòng không khác nếu muốn.

Đạn 35mm của nó chứa 152 đạn con làm bằng tungsten, mỗi cái nặng 3.3g. Một ngòi nổ điện tử sẽ kích nổ viên đạn khi cách mục tiêu khoảng 20m tạo thành một 'đám mây' kim loại dày đặc và phá hủy mục tiêu khi nó bay qua.

16.5.09

Xài tạm hàng tàu


Mặc dù hợp đồng mua bán hệ thống phòng không S-300 giữa Iran và Nga từng được coi là chắn chắn, nhưng cho tới nay Nga vẫn chưa chuyển hàng cho Iran. Có nhiều lí do, trong đó Nga một mặt chịu sức ép của phương Tây, mặt khác lại cũng muốn dùng nó như một con bài để mặc cả với Mỹ. Ngoài ra, Israel chắc chắn không muốn kẻ thù của mình có được một trong những hệ thống phòng không tiên tiến nhất thế giới hiện nay, mà Nga thì lại rất cần công nghệ UAV của Israel.

Do đó, cạn dần hy vọng với Nga, Iran đang xoay sang TQ, với hệ thống HQ9. Nó được xem như là một bản sao, kết hợp công nghệ chôm chỉa được từ cả S-300 và Patriot của Mỹ. Tầm hoạt động của nó với mục tiêu máy bay khoảng 120km, so với 150km của S-300, và chắc chắn hiệu quả cũng không thể bằng được. Tầm bắn của HQ9 nếu mục tiêu là tên lửa không đối đất là 7-50km, độ cao 1-18km. Mục tiêu là tên lửa hành trình thì tầm bắn là 7-15km, độ cao tối thiểu 25m. Nếu là tên lửa đạn đạo thì tầm từ 7-25km, độ cao 2-15km.

S-300 được coi là hệ thống có khả năng chống nhiễu cao và có thể tác chiến cùng lúc với 100 mục tiêu khác nhau.

Việc TQ copy công nghệ của Nga không còn là điều gì mới mẻ, bản thân Nga biết rõ điều đó, nhưng vì quá cần những đồng dollar của TQ nên họ đành làm ngơ. Tuy vậy, mâu thuẫn càng ngày càng lớn, khi mà những TQ dùng những sản phẩm copy giá rẻ đó, từ tên lửa cho tới máy bay chiến đấu, để cạnh tranh với chính hàng của Nga trên thị trường thế giới. Do đó, gần đây Nga trở nên chặt chẽ hơn với vị khách hàng lớn nhất của mình, tiêu biểu là việc từ chối bán Su-33, phiên bản của Su-27 dùng cho tàu sân bay.

Trong khi đó, tiếp tục có tin đồn về việc Israel đang ở trong giai đoạn chuẩn bị cuối cùng cho việc oanh kích các cơ sở hạt nhân của Iran.

12.5.09

Hệ thống phòng không của Đài loan

Đảo quốc Đài loan nằm cách bờ biển TQ chưa đầy 200km và luôn phải đối mặt với nguy cơ từ hàng ngàn tên lửa đạn đạo và máy bay chiến đấu. Do đó, hệ thống phòng không đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phòng thủ ở đây.

Lịch sử ra đời

Hệ thống phòng không chiến lược của DL ra đời từ những năm 50 thông qua một đợt triển khai bí mật của Mỹ tại đây. Nhân lực và thiết bị từ Mỹ được chuyển qua để thành lập 4 khẩu đội tên lửa phòng không Nike-Hercules dọc bờ biển tây bắc. Sau 1 năm, DL tiếp quản 4 khẩu đội này và đến những năm 70 mua thêm khẩu đội nữa. Hệ thống này được về hưu 1996.

Tổng quan

Phần lớn của hệ thống phòng không được đặt ở phía tây và bắc của hòn đảo, bao phủ phần không gian ở eo biển DL ngăn cách với TQ. 11 cơ sở radar cảnh báo sớm giám sát vùng trời, tấn công mục tiêu là nhiệm vụ của 22 khẩu đội cố định, gồm Hawk, Patriot và Tien Kung. Tầm hoạt động của các hệ thống này lần lượt và 40km, 160km và 200km. Ngoài ra, còn có 22 hệ thống phòng không tầm gần Skyguard bảo vệ các trung tâm dân cư lớn và căn cứ quân sự, một số được trang bị Sparrow, tầm 18km. Hình dưới đây là sơ đồ tổng quan hệ thống phòng không DL.

Các radar cảnh báo sớm được ký hiệu hình kim cương màu xanh lam. Căn cứ thử tên lửa là hình vuông màu nâu. Các vị trí tên lửa được ký hiệu hình tam giác, với các mã màu:

Cam: Hawk
Vàng: Patriot
Đỏ: Tien Kung
Xanh lục: Sparrow
Trắng: không hoạt động




Hawk

DL mua Hawk từ những năm 60. Hiện có tổng cộng 13 vị trí có triển khai các khẩu đội Hawk. Vị trí của chúng được thể hiện trong hình dưới, cùng với tầm bao phủ của chúng.

Tien Kung

Được phát triển từ những năm 80, gồm 2 phiên bản TK-1 và TK-2, TK-3 chuyên dùng để chống tên lửa đạn đạo đang trong quá trình phát triển.

TK-1 có thể được bố trí di động hay cố định. Tầm hoạt động 100km. TK-2 bố trí cố định, tầm 200km, có bổ sung một đầu dò radar chủ động, còn TK-1 sử dụng đầu dò thụ động, nhận tín hiệu từ radar chính của hệ thống phản xạ vào mục tiêu.

Có 6 vị trí tên lửa cố định, tên lửa được chứa trong những hầm chứa (silo) giống như tên lửa đạn đạo hạt nhân. Không có hệ thống phòng không nào khác dùng hầm chứa như TK.

Mỗi vị trí gồm 5 khu phức hợp hần ngầm, mỗi cái lại chứa 4 ống phóng, mỗi ống phóng có 4 tên lửa. Tổng cộng là 80 tên lửa. Hình dưới là không ảnh của một vị trí tên lửa TK được cải tạo từ căn cứ cũ của Nike (MIM-14).

Ngoài ra còn có 2 hệ thống radar. Mỗi cái cách nhau 1-4km.

Vị trí và tầm bao phủ của các vị trí trên được hiển thị trong hình dưới đây.




Patriot

DL mua 3 khẩu đội Patriot vào 1993, được sử dụng chủ yếu trong vai trò chống tên lửa đạn đạo và bảo vệ thủ đô. Vị trí của chúng được thể hiện trong hình dưới.





Skyguard - Sparrow

Đóng vai trò phòng thủ bảo vệ điểm.




Tổng kết

Với 1300-1500 tên lửa và hàng trăm máy bay mà TQ triển khai nhắm vào DL, rất khó để đảo quốc này có thể triển khai được một hệ thống phòng không tương xứng. Tuy vậy, họ có thể ngăn việc TQ tiêu diệt các cơ sở quân sự quan trọng một cách chớp nhoáng bằng việc kết hợp giữa tên lửa phòng không và máy bay chiến đấu.

TK sẽ đóng vai trò đánh chặn đội hình máy bay đối phương từ xa trong khi các máy bay chiến đấu giữ nguyên vị trí, chờ để tiêu diệt số còn lại. Số tên lửa hành trình hay máy bay lọt qua sẽ được đảm trách bởi Hawk hay Skyguard. Tên lửa từ tàu chiến cũng có thể hỗ trợ việc phòng thủ.

Hệ thống phòng không của DL được bố trí tương đối tốt, với nhiều hệ thống có tầm hoạt động chồng lấn nhau, tăng khả năng đánh trúng.










5.5.09

1 Cadillac = 4 Volvo

SA-11
NASAMS


Phần lan đang bỏ ra 700 triệu dollar để thay thế hệ thống phòng không SA-11 (Buk) của Nga bằng NASAMS của Nauy. 3 năm trước, Phần lan nhận hệ thống SA-11 như cách trừ khoản nợ 300 triệu dollar từ thời LX. Có tầm bắn 35km, đây là hậu duệ của SA-6 nổi tiếng trong những trận chiến ở Trung Đông trước kia. Trong cuộc chiến chớp nhoáng giữa Nga và Gruzia năm ngoái, cả 2 phía đều sử dụng hệ thống này. Nga bắn hạ 1 số UAV của Gruzia, và cũng mất ít nhất 4 Su-25 và 1 máy bay ném Tu-22 vì SA-11 của Gruzia.

NASAMS sử dụng tên lửa AMRAAM, loại tên lửa không đối không tầm xa của Nato. Tầm bắn 30km, trần hoạt động 20km, có thể dùng để chống tên lửa hành trình. Radar của hệ thống có tầm 50-70km. Phiên bản gắn trên máy bay của AMRAAM có tầm khoảng 70km. Cùng cạnh tranh với NASAMS là SAMP/T, với tầm bắn gần 100km, và có khả năng nâng cấp lên thành hệ thống chống tên lửa đạn đạo.

So với SA-11 và SAMP/T, NASAMS có các chỉ số không bằng, nhưng bù lại nó có giá rẻ hơn, và do đó, có thể mua nhiều hơn. Như lời Bộ trưởng BQP Phần lan là: "thay vì 1 chiếc Cadillac, chúng tôi mua 4 chiếc Volvo".

Việc mua NASAMS phản ánh sự thay đổi về chiến thuật phòng không của Phần lan, chuyển từ hệ thống phòng thủ tập trung sang hệ thống phân tán, có tầm bao phủ rộng hơn, và được kết nối với nhau. Ngoài ra, tên lửa AMRAAM có hệ thống dẫn đường chủ động rất tiên tiến, cho phép trong giai đoạn cuối nó tự tìm đến mục tiêu và không cần radar của hệ thống phòng không dẫn đường. Điều này giảm khả năng đối phương dùng tên lửa diệt radar tấn công vào hệ thống. Thậm chí, trong toàn bộ quá trình tác chiến, có thể không cần đến radar, tên lửa có thể nhân thông tin từ các nguồn khác.

Việc sử dụng các tên lửa không đối không cho vai trò đất đối không ngày càng thông dụng. Nguyên nhân vì các tên lửa này thường có bộ tự dẫn đường rất mạnh, cả về cảm biến và khả năng xử lý thông tin, do đó ít phụ thuộc vào radar của hệ thống hơn. Do đó, đối phương it có cơ hội dò ra vị trí của radar.

17.4.09

Radar tầm xa ngoại biên

Như đã biết, giới hạn đường chân trời luôn là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến tầm hoạt động của radar. Bằng cách dựa vào cách thức mà sóng radar tương tác với bầu khí quyền, người ta có thể tạo ra những loại radar có khả năng 'nhìn' xa hơn giới hạn những loại radar thường. Những radar ngoại biên (OTH) này thường có độ chính xác kém, nên chỉ dùng trong vai trò cảnh báo sớm, tuy vậy hiện nay tính năng của chúng cũng đã được nâng cao rất nhiều.

Các hệ thống OTH được chia làm 2 loại chính, sóng mặt đất và sóng trên không. Hệ thống sử dụng cơ chế sóng trên không còn gọi là OTH-B, nó dùng tầng điện ly của bầu khí quyển để phản xạ lại các sóng rdadar, thường là ở tầng số 5-28 MHz, nhờ đó sóng radar sẽ đi xa hơn giới hạn đường chân trời của mình. Nhược điểm của hệ thống này là sự tồn tại của 'vùng tối', nơi mà radar không thể 'nhìn' thấy gì. Radar dùng cơ chế sóng mặt đất, còn gọi là OTH-SW, dựa vào việc làm cho sóng radar lan truyền theo bề mặt của đại dương, đi xa hơn 'đường chân trời'. Do đó, OTH-SW phải được đặt trên bờ biển, và nó không có vùng tối. Còn OTH-B có thể triển khai ở bất kỳ đâu. Những hệ thống radar ngoại biên thường có kích thước rất lớn so với các radar thường.

CHIẾN TRANH LẠNH

Trong thời chiến tranh lạnh, OTH chủ yếu được sử dụng trong việc phát hiện máy bay ném bom và tên lửa chiến lược. Cả Mỹ và LX đều sử dụng OTH-B, của Mỹ là AN/FPS-118, của LX là Duga-3. Mỗi hệ thống được triển khai tại 2 địa điểm. Hiện nay thì cả 2 đều đã ngừng hoạt động. Hình bên dưới là các giàn phát (trên) và thu (dưới) của AN/FPS-118 ở bờ tây của Mỹ (giáp với Thái Bình Dương).



HIỆN NAY

Hiện nay Mỹ sử dụng radar OTH-B AN/TPS-71, có khả năng tái triển khai tại nhiều vị trí khác nhau. Ban đầu nó được lắp đặt ở Alaska để theo dõi bờ biển Nga cho tới 1993. Hiện có 3 hệ thống được lắp ở bờ Đông (Đại tây dương) và quanh biển Carribe, để hỗ trợ việc chống buôn lậu ma túy. (Xem hình dưới).


Còn Nga đang ngả về hướng dùng công nghệ OTH-SW, bao gồm hệ thống di động IRIDA, có tầm 300km và một hệ thống lớn hơn ở vùng Viễn Đông, được cho là để giám sát vùng Biển Nhật Bản. Hình dưới là giàn thu của hệ thống này.



Nước Úc, với vùng đại dương khổng lồ bao quanh, đã triển khai một hệ thống OTH-B tên Jindalee. Được triển khai tại 3 địa điểm, chúng được kết nối thành mạng JORN, theo dõi vùng trời và vùng biển phía tây và bắc Úc. Nó có tầm từ 800-3000km và được cho là có độ chính xác rất cao.Bên dưới là hình các giàn phát và thu của Jindalee.









Pháp cũng đang phát triển OTH-B của riêng mình, Nostradamus, có tầm 700-2000km, điểm đặc biệt của nó là các giàn angten có dạng hình ngôi sao.

TQ được cho là đã phát triển OTH-B từ 2001, với tầm từ 800-3000km. Các giàn thu phát đặt cách nhau 100km. Tình trạng hoạt động cũng như tính năng của nó chưa được hiểu rõ, nhưng được cho là có tầm bao phủ như hình dưới.





Ngoài ra TQ còn nghiên cứu OTH-SW, với tầm hoạt động dự kiến như hình dưới.



Nhiệm vụ chính của các hệ thống trên có thể là để hỗ trợ cho ý định của TQ
dùng tên lửa đạn đạo chống lại tàu sân bay Mỹ. Theo đó, radar OTH sẽ đóng vai trò cảnh báo, phát hiện từ xa. Sau đó, các phương tiện khác như vệ tinh, UAV sẽ xác định vị trí chính xác của mục tiêu.






16.4.09

Allah cũng phải cười

Trong thời gian diễn ra chiến dịch quân sự Cast Lead của Israel tại dải Gaza đầu năm nay, nhóm Hamas đã sở hữu một số tên lửa phòng không vác vai Stinger được đưa lậu từ Iran qua và đã dự tính sử dụng chúng để hạ các máy bay của Israel, đặc biệt là trực thăng vũ trang Apache, loại máy bay được sử dụng nhiều nhất trong chiến dịch. Tuy nhiên, điều mà Hamas hoàn toàn không ngờ tới là mỗi khi chúng nhắm vào máy bay Israel, trên bộ điều khiển đếu hiển thị thông báo lỗi "Đồng đội - Không thể bắn". Cả Stinger và các máy bay của Israel đều do Mỹ sản xuất, nhà sản xuất Raytheon, đã cài chương trình nhận diện bạn - thù vào Stinger từ hơn 10 năm nay.

Trong lần duy nhất mà Hamas thành công trong việc phóng tên lửa đi, thì nó ngay lập tức chệch hướng và rơi trúng 1 đội xe của chính Hamas. Kể từ đó, Hamas không bao giờ thử sử dụng Stinger lại. Hiện chúng đang tìm cách mua các vũ khí cùng loại của Nga.

10.4.09

Thách thức cho công nghệ đánh chặn giai đoạn đầu





Theo như bản đề nghị ngân sách quân sự cho năm tài khóa 2010 mới đây của bộ trưởng BQP Mỹ Robert Gates, chương trình phòng thủ tên lửa có tâm trạng vui buồn lẫn lộn. Theo đó, các hệ thống phụ trách việc đánh chặn trong giai đoạn giữa và giai đoạn cuối không bị ảnh hưởng. Nhưng các công nghệ thử nghiệm dùng trong việc tiêu diệt tên lửa trong giai đoạn đầu khi nó vừa phóng lên sẽ tạm dừng.

Trong phòng thủ tên lửa, có 3 giai đoạn để đánh chặn: khi nó vừa phóng lên, trong giai đoạn giữa khi nó đang ở trong không gian và giai đoạn cuối khi đầu đạn quay trở lại bầu khí quyển. Hiện nay Mỹ đang có những hệ thống hiệu quả trong việc phòng ngự ở hai giai đoạn sau.

Đảm nhận việc chống tên lửa trong giai đoạn giữa là hệ thống GMD và Aegis. GMD là tên gọi mới của hệ thống NMD trước đây, các tên lửa được đặt tại Alaska và California, trong tương lai có thể có thêm ở châu Âu. Còn hệ thống phòng thủ trên biển kết hợp tên lửa SM-3 và hệ thống phòng không Aegis. Cả 2 hệ thống này đều sử dụng cơ chế tiêu diệt bằng động năng. Nghĩa là đầu đạn không mang theo thuốc nổ mà nó sẽ lao thẳng vào mục tiêu. Hệ thống này sẽ được mở rộng với thêm 6 tàu chiến được trang bị Aegis.

Phòng thủ giai đoạn cuối là công việc của tên lửa Patriot PAC-3 và THAAD, trong đó THAAD có tầm xa hơn, còn Patriot sẽ là lớp phòng thủ cuối cùng.

Tuy vậy, hiện có hệ thống chuyên dùng trong giai đoạn đầu vẫn dừng ở mức công nghệ thử nghiệm. Theo lý thuyết, ở giai đoạn này, tên lửa đang bay lên, tốc độ chậm hơn 2 giai đoạn sau nên sẽ dễ đánh chặn hơn, và khi đó nó vẫn ở trong lãnh thổ đối phương. Tuy vậy, vì khoảng cách xa nên việc phát hiện kịp thời và phản ứng đủ nhanh không phải là chuyện dễ. Hai chương trình thử nghiệm là Hệ thống laser trên không ABL và KEI.

ABL kết hợp một nguồn phát tia laser hóa học khổng lồ vào trong một máy bay Boeing 747. Tổ lái gồm 4 người, nó hoạt động ở độ cao khoảng 15km, 6 cảm biến hồng ngoại của nó, 1 ở phía trước, 1 phía sau và 2 cho mổi bên, sẽ tìm kiếm mục tiêu là các tên lửa khi nó vừa mới rời bệ phóng. Một khi mục tiêu bị phát hiện, ABL sẽ phát ra 3 tia laser để theo dầu mục tiêu, tính toán khoảng cách và hướng đi. Tia đầu tiên sẽ cung cấp thông tin để theo dấu tên lửa. Tia thứ 2 quyết định điểm nhắm bắn. Tia thứ 3 cung cấp thông tin về độ nhiễu loạn của vùng khí quyển quanh đó để máy tính xác định mức bù trừ.

Cuối cùng, ABL sẽ phát ra tia laser hóa học năng lượng cao oxy iot (COIL) từ mũi máy bay. Sau khoảng 3-5 giây, lớp vỏ tên lửa sẽ bị thủng và tên lửa nổ tung. Một trong những lí do khiến chương trình bị trễ hạn và vượt ngân sách là vấn đề rung động của chiếc 747. Những rung động nhỏ gây ra bởi động cơ máy bay này trong điều kiện bình thường thì không đáng kể, nhưng khi trên máy bay là một nguồn phát laser lớn với yêu cầu rất cao về độ chính xác thì đó là vấn đề lớn. Ngoài ra, công nghệ cốt lõi của nó, laser hóa học, tuy có thể tạo ra năng lượng rất lớn, nhưng có nhược điểm là cồng kềnh, nguy hiểm và tốn kém. Công nghệ laser năng lượng điện hứa hẹn sẽ có nhiều tiềm năng hơn.

KEI là bao gồm các tên lửa được trang bị trên các giàn phóng di động, giống như Patriot, có thể được chuyên chở bằng máy bay đến gần biên giới các quốc gia thù địch. Hoặc nó có thể gắn trên tàu chiến. Cần khoảng 3 giờ để triển khai một khẩu đội 5 giàn phóng với 10 tên lửa. KEI sử dụng tên lửa có sơ tốc rất lớn, 36,000km/h, gấp gần 3 lần các tên lửa thông thường. Đầu đạn của nó cũng kết hợp công nghệ của GMD và SM-3 dùng động năng của sự va chạm để tiêu diệt mục tiêu.

Việc ngừng các chương trình ABL và KEI không có nghĩa là việc bắn chặn tên lửa trong giai đoạn đầu không được xem trọng nữa, vấn đề chỉ là cần có những công nghệ mới đáng tin cậy hơn.

8.4.09

Đường chân trời của radar

Do bề mặt cong của trái đất, luôn có một giới hạn thị giác về những gì ta có thể nhìn thấy. Giới hạn đó là đường chân trời, và nó phụ thuộc vào vị trí quan sát. Tương tự, sóng radar cũng có giới hạn đường chân trời, nếu mục tiêu ở ngoài giới hạn đó thì tín hiệu radar không thể truyền tới đó. Tuy vậy, vì khả năng lan truyền của tín hiệu radar mà giới hạn chân trời của radar sẽ xa hơn giới hạn thị giác.

Công thức chung để xác định một cách tương đối khoảng cách từ radar đến 'đường chân trời' của mình là:

R = 1.23 * (H)^1/2

Trong đó R là khoảng cách từ bộ phát tín hiệu đến giới hạn chân trời, đơn vị là Hải lý. H là độ cao của bộ phát so với mực nước biển, đơn vị là ft (=0.305m)

Còn tính khoảng cách xa nhất của 1 mục tiêu mà radar có thể thấy được:

R = 1.23 * [(H)^1/2 + (H')^1/2]

Trong đó H' là chiều cao hay độ cao của mục tiêu so với mực nước biển.

Các công thức trên chỉ mang tính tham khảo.

Trong trường hợp xác định giới hạn thị giác ta thay thế hệ số 1.23 trong 2 công thức trên bằng 1.06.

Giới hạn đường chân trời của radar là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tầm hoạt động của một hệ thống phòng không. Kết hợp giữa giới hạn này và các chỉ số tối đa và tối thiểu của tầm và độ cao tác chiến cho ta một sự đánh giá rõ ràng hơn về khả năng của hệ thống đó.

Lấy ví dụ hệ thống phòng không S-300PM của Nga. Các thông số về khả năng tác chiến của nó như sau:

Tầm từ 3 - 200km
Độ cao (mục tiêu) từ 10 - 27,000m.

Tuy vậy ta phải kết hợp với tính toán về giới hạn đường chân trời để cho ra chính xác vùng không gian mà hệ thống có thể bao quát.

Giả sử radar được đặt ở sát mực nước biển, khi đó giới hạn chân trời tương ứng với một mục tiêu ở độ cao 10m, là độ cao tối thiểu mà hệ thống có thể tác chiến, là 13km. Còn để đạt được tầm bắn xa nhất, 200km, thì mục tiêu khi đó phải ở khoảng cách tối thiểu 2350m.

Khi ta đặt bộ phát radar lên bộ giá đỡ thì các con số sẽ thay đổi. Ví dụ nếu ta sử dụng bộ 40V6, độ cao 23.8m, thì hệ thống có thể nhắm bắn một mục tiêu ở độ cao 10m từ khoảng cách 33km, thay vì 13km. Nếu dùng 40V6M, cao 38.8m thì con số này là 39km.

Ngược lại, độ cao tối thiểu của mục tiêu để S-300 phát huy tầm bắn tối đa 200km của mình giảm từ 2350m xuống còn 1900 và 1800m.

Hình dưới đây mô tả giới hạn tác chiến thực tế của S-300, trong điều kiện radar đặt ngang mực nước biển. Nếu theo các chỉ số của hệ thống thì giới hạn này trong hình trên sẽ là toàn bộ phần hình chữ nhật giới hạn bởi các cạnh '0-200' (ngang) và '10-27,000' (dọc). Tuy vậy, do yếu tố giới hạn chân trời mà vùng không gian tác chiến thực tế sẽ là phần diện tích giới hạn bởi đường màu xanh lục.


Lấy ví dụ về hệ thống phòng không quanh Kalinigrad, sử dụng S-300PS, tầm bắn tối đa 90km. Theo đó có 5 vị trí đặt radar với độ cao so với mực nước biển khác nhau, một số có gắn trên cột.

Đông Bắc: 83m, 40V6
Tây Bắc: 42m, 40V6
Trung tâm: 11m, 40V6
Đông Nam: 38m, ngang mặt đất
Tây Nam: 1m, ngang mặt đất

Theo hình dưới, các vòng tròn đó biểu thị tầm bắn tối đa, các vòng tròn trắng, nhỏ hơn, biểu thị tầm hoạt động thực tế khi tính tới yếu tố giới hạn đường chân trời.





1.4.09

SBX



SBX là hệ thống radar băng tần X trên biển, thường được gọi là quả bóng golf khổng lồ, vì hình dáng bên ngoài của nó. Cao tương đương tòa nhà 10 tầng, nó được đặt trên một bệ giàn khoan nổi khổng lồ. Bản thân radar nặng đến 1800 tấn, với 22000 module thu phát thể rắn. Nó được cung cấp điện bởi 6 máy phát, tổng công suất 12MW. Nó được mô tả là có khả năng phát hiện và theo dấu một quả bóng bầu dục ở khoảng cách 4700km.

Năm 2006, SBX, vẫn còn trong quá trình thử nghiệm, được huy động để theo dõi vụ thử tên lửa Taepodong 2 của Bắc Hàn, vụ thử khi đó thất bại. Lần này, Bắc Hàn lại chuẩn bị phóng Taepodong 2 một lần nữa, nhưng lần này SBX đang ở tại Hawaii và trải qua một đợt sửa chữa.

26.3.09

Pháo binh + Phòng không

MLRS


HIMARS


Spyder




Hãng Lockheed Martin vừa thử nghiệm thành công việc sử dụng giàn phóng hỏa tiễn cơ động (HIMARS) để phóng 2 tên lửa phòng không cải tiến AMRAAM.

HIMARS là một phiên bản thu nhỏ hệ thống pháo hỏa tiễn MLRS, từng được mệnh danh là "Mưa thép" ở Chiến tranh vùng Vịnh 1991. HIMARS ra đời để đáp ứng yêu cầu về một hệ thống gọn nhẹ, cơ động hơn, vì nó có thể được chuyên chở bởi máy bay vận tải C-130.

Cuộc thử nghiệm nằm trong một dự án nhằm biến HIMARS thành một hệ thống phóng chung cho cả hỏa tiễn đất đối đất và đất đối không. Hiện nay, HIMARS có thể chở theo 6 tên lửa GMLRS hoặc 1 ATACMS. GMLRS là tên lửa đối đất có tầm bắn hơn 70km và định vị bằng vệ tinh, cho nó độ chính xác không thua gì bom thông minh. Nó có nhiều chế độ kích nổ, như nổ trên không, nổ khi va chạm, hoặc nổ chậm. ATACMS có tầm bắn 165km nếu mang theo 950 quả đạn con, hoặc 300km với 300 đạn con, và có dẫn đường bằng vệ tinh. HIMARS có tầm hoạt động 480km, tốc độ tối đa 85km/h, trọng lượng 8 tấn, so với 15 tấn của MLRS. MLRS có thể mang theo gấp đôi số vũ khí của HIMARS.

Một điểm đặc biệt nữa của cuộc thử nghiệm này là việc sử dụng AMRAAM, một tên lửa không đối không, cho vai trò tên lửa không đối đất. Mặc dù chưa thật sự phổ biến, nhưng việc sử dụng các tên lửa không đối không, gắn trên chiến đấu cơ, cho các hệ thống phòng không có thể sẽ là một xu hướng nổi bật trong tương lai. Một ví dụ tiêu biểu là Spyder của Israel, hệ thống đầu tiên sử dụng cùng lúc 2 loại tên lửa khác nhau: Derby, dẫn bằng radar và Python, dẫn bằng đầu dò hồng ngoại. Cả 2 đều là tên lửa không đối không.

13.2.09

Aegis ở khắp nơi


Hải quân Mỹ vừa hoàn thành việc trang bị 18 chiến hạm với hệ thống phòng không Aegis. Một trong những lí do khiến Hải quân Mỹ hủy chương trình chế tạo khu trục hạm mới DDG-1000 vì chúng được thiết kế để hỗ trợ các chiến dịch đổ bộ và radar khó có thể được nâng cấp để sử dụng với tên lửa SM-3 trong hệ thống Agis. DDG-1000 cũng tốn gấp 2-3 lần một khu trục hạm trang bị Aegis. Với việc phòng thủ chống tên lửa được đặt ở mức ưu tiên cao hơn thì tiền tiết kiệm từ việc hủy chương trình DDG-1000 sẽ được sử dụng để đóng thêm nhiều tàu trang bị Aegis và nâng cấp những thế hệ cũ.

Do đó, sắp tới sẽ có thêm 3 chiếc nữa được trang bị Aegis, với giá khoảng 12 triệu dollar một chiếc. Aegis có tỷ lệ thành công khoảng 80% trong các cuộc thử nghiệm đánh chặn tên lửa đạn đạo. Ngoài ra, năm ngoái, nó đã tiêu diệt thành công 1 vệ tinh quân sự đang rơi trở về trái đất ở độ cao hơn 160km và khoảng cách 500km với vận tốc tương đối gần Mach 30 với chỉ một lần bắn.

Aegis sử dụng hai thế hệ tên lửa khác nhau. RIM-161A, hay SM-3, và SM-2. SM-3 thực tế dựa trên một phiên bản của SM-2 chuyên dùng để chống tên lửa là SM-2 Block IV. SM-2 Block IV có tầm hoạt động thấp hơn SM-3, nhưng nó có thể được dùng để chống cả máy bay và tên lửa trong khi SM-3 chỉ chuyên dùng chống tên lửa.

SM-3 có 4 tầng. 2 tầng đầu đưa tên lửa vượt khỏi tầng khí quyển. Tầng thứ 3 khai hỏa 2 lần để đẩy tên lửa xa hơn vào không gian. Trước mỗi lần, hệ thống GPS sẽ định vị lại tên lửa để đúng vào đường đi của mục tiêu. Tầng thứ 4 là một đầu đạn động năng dùng cảm biến hồng ngoại để đâm vào mục tiêu.

8.12.08

Iskander


Nga đang chuyển một số tên lửa đạn đạo SS-26 Iskander tới Kaliningrad như một cách để đáp trả hệ thống phòng thủ tên lửa mà NATO đang xây dựng. Đó là vì Iskander có những đặc tính đặc biệt khác với các tên lửa đạn đạo thông thường. Nó không phóng thẳng lên, rời khỏi bầu khí quyển, rồi lao xuống lại mà nó vẫn bay trong khí quyền, theo một đường bay khá thẳng. Nó có khả năng bay tránh né và triển khai mục tiêu giả. Nga đang mua khoảng hơn mười giàn Iskander, với tầm bay (400km) xa hơn của phiên bản dùng cho xuất khẩu (280km)

Iskander nặng 3.8 tấn, đầu đạn 450kg, có thể mang đầu đạn hạt nhân. Dẫn đường bằng GPS và đầu dò hồng ngoại và radar, nó có độ chính xác cao, khoảng 10m quanh mục tiêu. Iskander được phát triển để thay thế cho SS-23, vốn đã bị rút khỏi lực lượng theo hiệp ước giải trừ tên lửa tầm trung INF. Bản thân SS-23 là sự thay thế cho SCUD.

Nga tuyên bố rằng họ sẽ dừng tất cả các hợp đồng xuất khẩu để tập trung sản xuất khoảng 100 giàn Iskander để tập trung ở Kaliningrad. Nhưng bản thân SS-26 mới được đưa vào sản xuất, và cần vài năm mới có thể sản xuất được nhiều vậy. Tuy vậy, hành động của Nga nặng tính hình thức hơn, trừ khi họ thật sự có ý định bắt đầu chiến tranh hạt nhân.

7.12.08

C-RAM trên 8 bánh xe

Lục quân Mỹ đang nâng cấp phiên bản cơ động trên bộ của hệ thống chống tên lửa Phalanx của hải quân. Phiên bản này ra đời 4 năm trước tại chiến trường Iraq và được gọi là C-RAM, tức là hệ thống chống rocket, đạn pháo và đạn cối. Phalanx về cơ bản là một hệ thống phòng thủ tầm gần gắn trên tàu chiến. Nó gồm một súng Gatling (súng máy đa nòng) 20mm được trang bị radar riêng và hoàn toàn tự động, và được sử dụng như lớp phòng thủ cuối cùng chống lại tên lửa diệt hạm.

C-RAM là Phalanx, với một số thay đổi về phần mềm cho phép nó sử dụng dữ liệu từ nhiều nguồn radar khác và bắn hạ gần như bất cứ loại hỏa lực pháo binh nào. Sau này hệ thống được đổi tên là Centurion. Nó sử dụng đạn 20mm chứa chất nổ, phát hỏa khi có mục tiêu ở gần và dùng mảnh đạn để hạ mục tiêu. Hệ thống gốc Phalanx, trên tàu chiến, sử dụng đạn làm từ uranium làm nghèo để xuyên phá tên lửa. Tốc độ bắn lên tới 75 viên/giây.

Centurion cơ động bao gồm hệ thống Centurion cơ bản cùng một máy phát điện. Hệ thống được gắn trên HEMTT, một loại xe vận tải quân sự hạng nặng 8x8 của Mỹ, còn được biết đến như là M-977. Thế hệ mới được trang bị động cơ diesel điện. Được thiết kế để vượt địa hình, nó là có thể theo kịp các đội hình xe tăng trong 2 cuộc chiến tranh vùng vịnh. Nó có thể chở 10 tấn hàng hóa. Centurion nặng 6 tấn. Lục quân Mỹ có 13000 HEMTT.

Hệ thống C-RAM đầu tiên được triển khai ở Iraq vào khoảng 2006 để bảo vệ Vùng Xanh, và nó đã bắn hạn khoảng 70-80% số đạn pháo bắn vào đó. Trong 2 năm qua, Centurion đã bắn chặn hơn 100 mục tiêu. Tầm bảo vệ của nó là 4km, giá một hệ thống là 15 triệu dollar. Hiện có 22 hệ thống, đa số sẽ được gắn trên HEMTT.

Ngoài ra, lục quân Mỹ cũng sẽ gắn 5 hệ thống kiểm soát đám đông bằng sóng viba ADS trên HEMTT. ADS dùng sóng viba ở một tần số nhất định khiến cho người trong vùng ảnh hưởng cảm thấy như da mình đang bị thiêu đốt. Thử nghiệm cho thấy không ai có thể đứng lâu hơn 5 giây trước khi bỏ chạy.

Việc đưa ADS vào sử dụng đã bị trì hoãn khá lâu vì các chỉ huy e sợ các phản ứng tiêu cực của báo chí và giới chính trị về những huyền thoại liên quan đến 'tia tử thần' mặc dù ADS không phải là vũ khí sát thương.