19.5.09

Tích tiểu thành đại


Chỉ vài ngày sau khi một hợp đồng mua 12 chiếc Su-30MK2 của Việt nam được công bố, giá mỗi chiếc khoảng hơn 40 triệu dollar, con số này được giảm xuống còn 8 chiếc vì lí do khó khăn kinh tế. Tuy vậy, điều này cũng không có ý nghĩa nhiều lắm vì đằng nào VN cũng khó có thể cùng lúc mua 12 chiếc máy bay với tổng giá trị nửa tỷ dollar mà sẽ chia làm nhiều đợt.

Hợp đồng này sẽ nâng cao đáng kể khả năng phòng thủ trên biển của VN vì phiên bản này của Su-30 có các hệ thống điện tử chuyên dùng cho tên lửa diệt hạm. Su-30 là phiên bản nâng cao phát triển lên từ Su-27, là loại máy bay mà VN đã sử dụng trong gần 1 thập niên nay. Ngoài ra, VN cũng đang sử dụng (Su-30MKK) Su-30MK2V. Là một trong những loại chiến đấu cơ cường kích hiện đại nhất thế giới hiện nay, sự bổ sung của Su-30MK2 là một bước đi cần thiết trong việc nâng cấp sức mạnh quân sự của Việt nam.

Tuy vậy, một lần nữa phải nhấn mạnh rằng con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Không phải việc VN mua được bao nhiêu máy bay mới, mà chính là số giờ bay trung bình hàng năm của các phi công sẽ cho thấy sức mạnh thật sự của không quân. Bên cạnh đó, một chiếc máy bay dù hiện đại đến đâu, nhưng nếu tỷ lệ sẵn sàng thấp, nghĩa là đa số thời gian nó phải nằm 'đắp chiếu', hoặc thiếu vũ khí, trang thiết bị kèm theo thì cũng không có tác dụng. Vũ khí càng hiện đại thì việc duy tu, bảo dưỡng càng phức tạp và tốn kém. Nhất là khi mà đó là máy bay của Su, không phải Mig.

Trước kia, Mig gần như đồng nghĩa với phi cơ Liên xô. Những chiếc Mig được thiết kế với triết lý là chế tạo những mẫu máy bay giá rẻ, sử dụng cho những lực lượng không quân có trình độ phi công không quá cao, vì phương thức tác chiến trên không của LX và đồng minh dựa rất nhiều vào sự chỉ huy từ đài điều khiển mặt đất. Điều này có nghĩa là máy bay không cần có độ tin cậu quá cao, vì nó sẽ ít được dùng trong huấn luyện. Ví dụ như Mig-29 chỉ được thiết kế với mức 100 giờ bay mỗi năm. Ngoài ra, Mig cũng không yêu cầu quá cao về vấn đề bảo dưỡng, duy tu. Hình ảnh những chiếc Mig phơi sương gió tại những sân bay dã chiến đã rất quen thuộc. Trong khi đó, Sukhoi, với Su-27, đã chuyển sang triết lý khác, họ thiết kế những máy bay với ý nghĩ trong đầu rằng nó sẽ được dành cho những phi công hạng nhất, đồng thời nó cũng đòi hỏi cao về vấn đề hậu cần, duy trì. Do đó, ít máy bay hơn nhưng phi công được huấn luyện tốt hơn, thực hiện việc bảo trì đầy đủ và sẵn sàng chiến đấu cao thì vẫn tốt hơn.

Cỗ máy chiến tranh vận hành như một hệ thống hoàn chỉnh, không đơn giản là vũ khí X vs. vũ khí Y. Do đó, không chỉ những loại vũ khí trực tiếp tham chiến (chiến đấu cơ, chiến hạm…) mà các loại khí tài hỗ trợ khác cũng đóng vai trò quyết định. Trước đó, VN đã mua 4 hệ thống radar thụ động Kolchuga của Ukraina. Mỗi hệ thống gồm 3 cảm biến, cho phép thực hiện phép đo tam giác để xác định vị trí mục tiêu, cả trên không và trên biển, tối đa 32 mục tiêu. Ngoài ra còn có 3 máy bay tuần tra và thám sát hàng hải CASA C212 của TBN với radar của Thụy điển, 10 máy bay huấn luyện Yak-52, 4 máy bay huấn luyện L-39 đã qua sử dụng.

Ngoài việc đầu tư một cách khá toàn diện thì những hợp đồng trên còn cho thấy sự đa dạng hóa trong nguồn cung. Khi nói đến vũ khí, thì không phải lúc nào cũng chỉ là những cái tên như Nga, Mỹ, Anh…mà còn rất nhiều những nước khác cũng xuất khẩu vũ khí. Mỗi nước đều có những 'đặc sản', thế mạnh riêng của mình. Đôi khi những nước không được nổi tiếng lắm lại ít bị những ràng buộc và toan tính chính trị trong vấn đề mua bán vũ khí. Ngoài ra, dùng thiết bị của nhiều nước trong cùng 1 hệ thống vũ khí cũng là một xu hướng phổ biến. Ngay cả Nga khi chào bán máy bay của mình cũng thường đi kèm option trang bị thiết bị điện tử của phương tây cho dễ bán hơn.

Do đó, việc tăng cường sức mạnh quốc phòng với điều kiện ngân sách hạn chế tuy khó, nhưng không phải là không thể, quan trọng là có một chiến lược, kế hoạch đúng đắn.

Hack vệ tinh quân sự


Mỹ và Brazil vừa phối hợp bắt giữ một số người đã sử dụng trái phép các vệ tinh liên lạc thuộc hệ thống FLTSATCOM. Hệ thống này gồm 8 vệ tinh được phóng lên quỹ đạo từ 1979-1989. Đến những năm 90, nó được thay thế bởi UFO, một hệ thống mới hơn. Cả 2 đều đóng vai trò là vệ tinh liên lạc cho hải quân Mỹ. Mặc dù không còn được sử dụng, và tuổi thọ theo thiết kế là 7 năm, vẫn còn 2 vệ tinh thuộc FLTSATCOM còn hoạt động được, sau hơn 20 năm kể từ ngày được phóng lên.

Không lâu sau khi hải quân Mỹ ngưng dùng FLTSATCOM, các tay chơi radio nghiệp dư ở Brazil khám phá ra rằng chỉ cần một chảo vệ tinh và biết đúng tần số, họ có thể sử dụng 2 vệ tinh còn lại của hệ thống. Khi nhận được tín hiệu từ mặt đất đúng tần số, chúng sẽ tự động chuyển tiếp xuống 1 khu vực rộng lớn bên dưới. Nhờ đó, những người chơi radio có thể liên lạc với nhau qua một khoảng cách rất xa.

Một người Brazil nhập cư vào Mỹ và vẫn sử dụng cách này đã bị phát hiện và phạt 20,000 dollar. Sau đó phía Mỹ yêu cầu nhà chức trách Brazil can thiệp, vì đó vẫn còn là tài sản của chính phủ Mỹ, hơn nữa, chúng vẫn có thể hữu dụng trong trường hợp khẩn cấp.

18.5.09

Cuộc chiến Falkland - P3

Cuộc chiến lớn trên bộ bắt đầu vào ngày 21/5, khi 1000 lính thủy đánh bộ Hoàng gia đổ bộ lên đảo Đông Falkland. Với lực lượng tăng viện, họ dựng nên công sự trên bờ biển đầu tiên của quân Anh, gần khu dân cư nhỏ xíu tên là Port San Carlos, trên bờ biển phía tây của đảo. 5 tàu của Anh bị hư hại nặng trong cuộc đổ bộ,bao gồm khinh hạm Ardent, sau đó bị chìm, làm 22 người chết.
Từ 21 đến 25 tháng 5, Argentina và Anh giao tranh dữ dội trên không và trên bộ. Tổng cộng, phía Anh mất 5 trong số 40 phi cơ Harrier, cả 5 phi công đều thiệt mạng. Phía Argentina mất hơn 2 tá A-4 Skyhawk và Mirage vì tên lửa Sidewinder, Rapier, Blowpipe phóng từ máy bay, tàu chiến và mặt đất. Khinh hạm Antelope của Anh bốc cháy và bị bỏ lại ngày 23/5.
Trận không-hải chiến chính diễn ra ngày 25/5, nay là ngày lễ của Argentina. Phi công Argentina xuất kích những phi vụ mà sau này được so sánh với những cuộc tấn công cảm tử của đội Kamikaze, Nhật Bản, đánh chìm khu trục hạm Coventry, và tàu vận tải Atlantic Conveyor. 24 thủy thủ Anh thiệt mạng.
Cuộc chiến trên bộ: đến cuối tháng 5, sự chú ý chuyển sang cuộc chiến trên bộ. Quân Anh rời khỏi công sự tại Port San Carlos và chiếm lại Darwin, Goose Green. Cùng lúc, một số lớn quân tăng viện tới ngoài khơi quần đảo, bao gồm 3000 lính di chuyển tới Falkland bằng chiếc du thuyền sang trọng Queen Elizabeth 2, vốn đã được chính phủ Anh trưng dụng vào đầu tháng 5. Trên tàu QE2 là Lữ đoàn bộ binh số 5, bao gồm những đon vị kỳ cựu: Vệ binh Scotland, Vệ binh xứ Wales, và đơn vị Gurkha.
Suốt đầu tháng 6, phía Anh chuyển đại pháo, súng cối, và những thiết bị khác lên vùng đất cao gần Stanley, và tàu chiến tiếp tục rót đạn pháo vào các vị trí của quân Argentina. Những đơn vị biệt kích tinh nhuệ của Anh di chuyển ngang qua hòn đảo từ Darwin, Goose Green tới chiếm lĩnh những vị trí gần Stanley, xuyên qua bão tuyết, địa hình lởm chởm, và sự tiếp tế không đầy đủ.
8/6, với chiến thắng đã trong tầm tay, người Anh lại chịu cuộc phản công đầy tính coi thường nhất của Argentina. Từng đợt,từng đợt máy bay Skyhawk, Mirage tấn công những vị trí mới được thiết lập của Gurkha và Vệ binh ở Bluff Cove và Fitzroy, 15 dặm về phía tây nam của Stanley. Trong đợt không kích, một tàu chở lính, chiếc Sir Galahad, đang di chuyển binh lính từ cảng San Carlos, bị hỏng nặng, 50 người chết, 57 bị thương. Một chiếc khác, chiếc Sir Tristam, cũng bị hư hại. Phía Anh nói họ đã bắn rơi 11 máy bay Argentina.
Bắt đầu bằng một cuộc tấn công bất ngờ đêm 11, rạng sáng 12/6, những đơn vị Gurkha và Vệ binh dày dặn trận mạc tiến về Stanley, băng qua vài dặm còn lại. 14/6, lính Anh bắt đầu tiến vào thủ phủ Stanley, Chuẩn tướng Mario Benjamin Menendez đầu hàng Thiếu tướng Jeremy Moore, tư lệnh lực lượng trên bộ của Anh. Điện báo chiến thắng của Moore viết “Quần đảo Falkland một lần nữa trở lại với chính phủ mà được mong muốn bởi cư dân của nó. Cầu chúa phù hộ nữ Hoàng”.
Sau này, những nhà phân tích cho rằng nước Anh nợ chiến thắng của họ đối với những đơn vị tinh nhuệ Gurkha, Vệ binh Scotland, Vệ binh xứ Wales, khi họ đã mở một cuộc tấn công rất ác liệt vào một vị trí pháo binh của Argentina trông xuống Stanley. Những cuộc phỏng vấn lính Argentina sau đó đã xác định, chìa khoá cho chiến thắng của Anh là do những đơn vị kinh nghiệm của nước này đụng với một đội quân khố rách áo ôm của những tân binh trẻ, được huấn luyện kém của Argentina. Những binh lính Argentina sau này cay đắng kể cho những phóng viên họ đã phải chui rúc trong chiến hào trong thời tiết băng giá như thế nào khi không có ủng cao su, và cố gắng một cách vô ích để nhóm lửa với dầu hoả đã bị pha loãng với nước bởi những tên đầu cơ chiến tranh ở Argentina. quần áo ấm , thực phẩm, đạn dược cũng thiếu thốn. Sau chiến tranh, theo những nhà báo Anh, binh lính Anh tìm thấy một nhà kho tại Stanley chứa đầy ủng cao su, dầu hoả, và đạn dược.

Tổn thất: Trong suốt cuộc chiến, 2 bên đưa ra rất nhiều báo cáo khác nhau về tổn thất, và có thể sẽ chẳng ai có thể khẳng định con số chính xác. Nhưng theo ước đoán gần nhất thì số thiệt hại nhân mạng về phía Anh là 260, và phía Argentina là 800.
Phía Anh công bố đã tiêu diệt 74 máy bay Argentina. Anh mất 5 tàu chiến: khu trục hạm Coventry và Sheffield, khinh hạm Ardent và Antelope, tàu vận tải Atlantic Conveyor. Một số khác bị hư hỏng khá nghiêm trọng. Argentina mất 5 tàu : tuần dương hạm Tướng Belgrano, tàu tiếp tế Isla de los Estados, tàu ngầm Santa Fe, một tàu tuần tiễu không tên, và một tàu đánh cá Narwal ( bị nghi là đang do thám).

Phân tích: Trong khi tìm kiếm những bài học từ chiến tranh, cuộc tranh luận sôi nổi nhất là những có phải trận giao chiến trên biển chỉ ra rằng tốt hơn là nên có một số lượng lớn hơn những con tàu nhỏ hơn chứ không phải một số ít hơn những con tàu lớn hơn. Một số chuyên gia biện luận rằng nếu một tên lửa Exocet trị giá 200.000 dollar có thể phá hủy một khu trục hạm 50 triệu dollar như chiếc Coventry thì một vũ khí tương tự có thể phá hủy một tuần dương hạm trang bị hệ thống Aegis trị giá 1 tỷ dollar của hải quân Mỹ, một chiếc tàu cũng có nhiều cấu trúc làm bằng nhôm ( trên thực tế, hiện nay các tàu của Hải quân Mỹ đều không còn sử dụng nhôm).Những người này nói tốt hơn là nên chế tạo nhiều hơn những chiếc tàu rẻ hơn, thay vì những chiếc kiểu Aegis hay tàu sân bay lớn.
Những người khác lại phản bác rằng những tổn thất của Hải quân Anh đã không xảy ra nếu họ có một loại tàu sân bay lớn (như lớp Nimitz của Mỹ) để bảo vệ hạm đội bằng những tiêm kích cơ F-14, máy bay cảnh báo sớm và radar. Nhớ đó, có thể phát hiện và phá hủy phi cơ đối phương rất lâu trước khi nó kịp khai hỏa.
Tuy vậy, bài học chung nhất có thể rút ra từ cuộc chiến Falkland là lòng dũng cảm và sự yếu đuối của con người vẫn là chìa khoá của thành công hay thất bại kể cả trong thời đại kỹ thuật cao.

17.5.09

Israel huấn luyện F-16 vs. Mig-29


Không quân Israel được cho là đã thuê một số chiếc Mig-29 và đang dùng nó trong những bài tập không chiến tầm gần với F-16 của mình. Chúng sẽ được gắn rất nhiều cảm biến đặc biệt tại khắp các vị trí và hệ thống của máy bay và sẽ truyền dữ liệu thời gian thực về mặt đất trong suốt bài tập. Ngoài ra, không quân Israel còn đang thực hiện những bài huấn luyện trong đó cho F-16 bay với tải trọng tối đa. Những động thái cho thấy khả năng Israel sẽ không kích Iran ngày càng lớn.

NBS -Tấm khiên trên không



Ngày 13/5 vừa qua, quốc hội Đức chấp thuận việc mua 2 hệ thống NBS với giá 185 triệu dollar. NBS là một hệ thống C-RAM của hãng Rheinmetall AG cũng của Đức, được phát triển lên từ hệ thống Skyshield. C-RAM là tên gọi chung của những hệ thống phòng không tầm gần chuyên chống lại hỏa tiễn, pháo, pháo cối. Hiện hệ thống được sử dụng rộng rãi nhất là Phalanx của Anh, Mỹ.

Một hệ thống của nó gồm 1 trạm điều khiển, 2 trạm cảm biến gồm radar và thiết bị quang điện tử, và 6 ụ súng 35mm. Toàn bộ hệ thống có mức độ tự động hóa cao, đây là đặc điểm chung của các C-RAM, vì nó chống lại các mục tiêu có tốc độ rất cao và ở tầm gần. Người vận hành hầu như chỉ có nhiệm vụ giám sát tình trạng chung, việc phát hiện và tiêu diệt mục tiêu diễn ra tự động. Nó còn có thể được kết nối vào các hệ thống phòng không khác nếu muốn.

Đạn 35mm của nó chứa 152 đạn con làm bằng tungsten, mỗi cái nặng 3.3g. Một ngòi nổ điện tử sẽ kích nổ viên đạn khi cách mục tiêu khoảng 20m tạo thành một 'đám mây' kim loại dày đặc và phá hủy mục tiêu khi nó bay qua.