7.12.11

Không gian chiến tranh thứ 4

Trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm, con người đã tổ chức chiến tranh trên đất liền, trên biển (cả trên và dưới mặt biển), và trên không (bên trong và ngoài bầu khí quyển). Đó là 3 vùng không gian truyền thống của chiến tranh. Nhưng trong những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, với sự phát triển của Internet, một không gian chiến tranh mới được mở ra, đó là không gian điều khiển, hay không gian mạng. Đây là một cuộc cách mạng rất lớn nhưng âm thầm trong cách thức con người tiến hành chiến tranh. Cho đến nay vẫn chưa có cuộc chiến nào thực sự nổ ra trên không gian mới này, hay ít nhất là công chúng chưa biến đến. Nhưng một loạt những sự kiện gần đây cho thấy viễn cảnh về 'chiến tranh mạng' không còn xa vời nữa, thậm chí chúng còn có thể dẫn đến chiến tranh thật. 

Quả bom số Stuxnet 

Stuxnet được xem là loại chương trình phá hoại cấp độ quân sự đầu tiên, hay ít nhất là loại đầu tiên được công chúng biết đến rộng rãi. Được gọi như trên là do Stuxnet có 3 đặc điểm: có thể trực tiếp gây ra thiệt hại vật chất, có một mục tiêu và mục đích phá hoại cụ thể, và được phát triển bởi 1 chính phủ. 

Các chương trình phá hoại thông thường (virus, sâu máy tính, trojan…) thường nhắm đến máy tính cá nhân hoặc hệ thống máy tính của doanh nghiệp, với mục tiêu đánh cắp thông tin, hoặc phá hoại và làm gián đoạn các hoạt động của cá nhân hay doanh nghiệp, ví dụ xoá các file quan trọng hoặc làm sập website. Chúng có thể gây thiệt hại lớn về tài chính, nhưng không trực  tiếp gây thiệt hại cho máy móc hay con người. 

Stuxnet là loại chương trình được thiết kế để xâm nhập và phá hoại hệ thống máy tính điều khiển công nghiệp. Hệ thống này được dùng để giám sát và điều khiển các thiết bị hay quy trình tại các cơ sở công nghiệp trọng yếu như trạm điện, nhà máy xử lý nước, xí nghiệp sản xuất, thậm chí các nhà máy điện hạt nhân. Nếu chiếm quyền kiểm soát các hệ thống này, người tạo ra chương trình này có thể chiếm quyền điều khiển các công tắc, bơm, van…trong 1 nhà máy, và gây ra những thiệt hại khôn lường về vật chất hay tính mạng con người, ví dụ tắt hệ thống làm nguội của 1 lò phản ứng hạt nhân, mở van để hoá chất độc hại thoát ra ngoài môi trường…

Trên thực tế, bất cứ một thiết bị công nghiệp nào dựa vào cơ chế quay, như máy phát, van, turbin, đều có thể bị ra lệnh tự phá huỷ, đó là theo kết quả một cuộc thử nghiệm hồi năm 2006 của Phòng thí nghiệm quốc gia Idaho, Mỹ. Điều này một phần là do trong thời gian gần đây, phần mềm của các hệ thống công nghiệp chạy trên nền tảng Windows hay Linux trở nên phổ biến hơn, thay vì các nền tảng chuyên biệt được viết riêng như trước kia. Điều này khiến hệ thống dễ bị xâm nhập và phá hoại hơn. 

Stuxnet đặc biệt nhắm vào hệ thống sử dụng phần mềm Simatic WinCC hoặc PCS 7 của tập đoàn Siemens, Đức. Đây là cũng hệ thống được sử dụng trong nhà máy làm giàu nguyên liệu hạt nhân của Iran. Cụ thể hơn, nó tập trung chủ yếu vào việc kiểm soát bộ biến tần. Đây là 1 loại thiết bị chuyên điều khiển tốc độ quay của động cơ điện bằng cách kiểm soát tần số dòng điện cung cấp cho động cơ đó. Stuxnet sẽ chặn các lệnh hợp lệ từ phần mềm điều khiển của Siemens đến thiết bị này và thay bằng các lệnh riêng của mình để thay đổi tốc độ quay của động cơ một cách đột ngột. 

Stuxnet thậm chí chỉ tấn công các bộ biến tần do một số công ty cụ thể chế tạo, bao gồm công ty Fararo Paya của Iran và Vacon của Phần Lan. Và nó cũng hoạt động đối với các thiết bị cao tần, từ 807 Hz đến 1210 Hz. Những loại động cơ có tốc độ cao như vậy thường chỉ được sử dụng trong 1 số ít các mục đích đặc biệt. Theo luật pháp Mỹ, những công ty Mỹ nếu muốn xuất khẩu những thiết bị từ 600 Hz trở lên phải được sự cho phép đặc biệt của Uỷ ban giám sát hạt nhân Mỹ, vì chúng có thể được dùng cho mục đích làm giàu nguyên liệu hạt nhân. 

Về mặt kỹ thuật, Stuxnet có thể lợi dụng 4 lỗi chưa được biết đến của Windows, một điều chưa từng thấy trước đây. Thông thường, một chương trình gây hại nếu lợi dụng được 1 lỗi tương tự cũng đủ được coi là 1 vấn đề nghiêm trọng. Trước Stuxnet, chưa từng có chương trình gây hạ nào lợi dụng được nhiều hơn 2 lỗi chưa được biết đến của Windows. Ngoài ra, Stuxnet có thể xâm nhập vào các bộ điều khiển logic (PLC), và tự dấu mình bên trong, đến mức ngay cả khi người dùng xem được mã nguồn của bộ PLC, họ cũng không thể phát hiện ra. 

Stuxnet được phát hiện bởi một một công ty an ninh mạng vô danh ở Belarus và lây nhiễm nhiều hệ thống máy tính ở Iran, TQ, Indonesia, Ấn Độ…Tuy nhiên nơi bị nhiễm đầu tiên, và cũng là mục tiêu của Stuxnet là Iran, trước khi nó bị lây nhiễm ra toàn thế giới. Mục tiêu của Stuxnet là làm hỏng các máy siêu ly tâm trong nhà máy làm giàu nguyên liệu hạt nhân bằng cách thay đổi tốc độ quay liên tục nhằm làm hỏng các ổ bi. Stuxnet thậm chí có thực hiện việc phá hoại này một cách âm thầm bằng cách gửi các tín hiệu giả ra thiết bị theo dõi bên ngoài, nên đối với kỹ thuật viên mọi thông số đều có vẻ bình thường. Và ngay cả khi bị phát hiện, việc xoá hoàn toàn Stuxnet khỏi hệ thống có thể mất nhiều tuần. Hình ảnh từ các camera của cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế đặt tại nhà máy hạt nhân của Iran cho thấy nhiều máy siêu ly tâm đã bị hư hỏng tới mức phải được tháo bỏ và thay bằng máy mới trong khoảng cuối năm 2009 đến đầu 2010. 

Cho đến nay chưa ai chính thức nhận trách nhiệm về Stuxnet. Nhưng những thông tin có được cho đến nay cho thấy đó là một sản phẩm của chính phủ. Như đã phân tích ở phần trên, Stuxnet ở một trình độ hơn hẳn mọi chương trình phá hoại từng được biết đến. Nó có khả năng phá hoại ghê gớm, và rất khó bị phát hiện hay tiêu diệt. Mặc dù vậy, Stuxnet chỉ có kích thước tương đương 600 Kilobyte. Để tạo được một chương trình tinh vi như vậy, cần sự hợp lực của nhiều tài năng xuất sắc. Hơn nữa, để đạt được khả năng như vậy, Stuxnet chắc chắn phải được đem thử nghiệm nhiều lần trong môi trường thực tế với một hệ thống công nghiệp tương tự như hệ thống mục tiêu. Một cơ sở thử nghiệm như vậy có thể tiêu tốn hàng triệu dollar. 

Thông thường, các cá nhân hay tổ chức tội phạm có mục đích chủ yếu là tiền bạc, hoặc danh tiếng. Rõ ràng đây không phải là mục tiêu của Stuxnet. Hơn nữa, Stuxnet được thiết kế với mục tiêu phá hoại rất cụ thể nhắm vào chương trình hạt nhân của Iran, cho thấy đây là một chiến dịch có chủ đích của những chính phủ có quan hệ thù địch với Iran. Nhiều khả năng Stuxnet là 1 chiến dịch chung của 2 nước, trong đó Stuxnet được thử nghiệm tại Israel, trong 1 co sở bí mật mô phỏng theo nhà máy làm giàu hạt nhân của Iran. Lãnh đạo Israel nhiều lần tuyên bố công khai rằng nếu cộng động quốc tế không thể ngăn chương trình hạt nhân của Iran, họ sẽ có 'hành động' thích hợp. Từ trước đến giờ mọi người vẫn nghĩ rằng 'hành động' đó là một cuộc không kích tương tự như chiến dịch Opera. Trong chiến dịch này, các chiến đấu cơ F-15A và F-16 của không quân Israel đã ném bom phá huỷ 1 lò phản ứng hạt nhân của Iraq vào ngày 7/6/1981. Tuy nhiên giờ đây Israel có một loại 'bom' vô hình khác có thể gây thiệt hại không kém một cách âm thầm.

Mặc dù có dân số rất khiêm tốn, Israel vẫn luôn được biết đến như một trong những trung tâm công nghệ hàng đầu của thế giới, trong đó bao gồm khả năng tác chiến trong không gian điều khiển. Israel là một trong số rất ít nước công khai việc mình có đơn vị đảm nhận vai trò tấn công trong chiến tranh mạng, trong khi đa số các nước khác tuyên bố rằng các đơn vị chiến tranh mạng của mình chỉ được dùng trong vai trò 'phòng thủ'. Năm ngoái, Israel cho biết Đơn vị 8200 nổi tiếng của mình sẽ đảm nhận thêm nhiệm vụ đột nhập vào hệ thống mạng của kẻ thù. Nhiệm vụ chính của 8200 trước nay là mã hoá và phá mã. Không rõ 8200 có tham gia vào dự án Stuxnet hay không, nhưng 7 năm trước, cũng chính đơn vị này đã phá được các bức điện mật liên quan đến chương trình hạt nhân của Iran. 

Hệ thống mạng bên trong nhà máy hạt nhân của Iran gần như chắc chắn không kết nối với Internet. Vậy Stuxnet có thể lây nhiễm thông qua con đường nào? Có một số khả năng như sau:

Stuxnet có thể được cài đặt sẵn trong các ổ cứng trước khi chúng được lắp đặt vào các máy tính bên trong nhà máy. Hoặc nó có thể được cài sẵn trong bộ nhớ của các thiết bị văn phòng, vd như máy in, và khi các thiết bị này được nối vào máy tính, Stuxnet sẽ bắt đầu lây nhiễm. Đây cũng là cách mà Mỹ đã sử dụng nhằm góp phần vô hiệu hoá hệ thống phòng không của Iraq trong chiến tranh Vùng Vinh. Cách thứ 3 là lây nhiễm gián tiếp, bằng cách cài Stuxnet vào máy tính tại nhà của 1 nhân viên làm việc trong nhà máy, thông qua email hoặc trang web chứa mã độc, và nếu nhân viên này dùng chung ổ lưu trữ USB cho cả máy ở nhà và tại nhà máy, Stuxnet sẽ đi từ máy cá nhân sang ổ USB và từ đó lây nhiễm vào mạng máy tính tại nhà máy. Cách thứ 4 là dùng 1 ổ USB có sẵn Stuxnet bên trong, và cố ý đặt tại một nơi nào đó để một nhân viên thiếu cảnh giác tìm thấy và cắm vào máy tính của mình. Cách thứ 5 là cài 1 tay trong của tình báo Israel hoặc Mỹ bên trong nhà máy, và đưa Stuxnet vào cũng bằng USB. Và cách cuối cùng là dùng 1 nguồn phát để 'bắn' thẳng chương trình Stuxnet vào trong 1 đầu thu sóng vô tuyến, nếu có, của hệ thống mạng tại nhà máy. Đây là cách Israel đã sử dụng để làm tê liệt hệ thống phòng không của Syria để chiến đấu cơ đột nhập và phá huỷ cơ sở hạt nhân của Syria.

Yếu tố con người

Trong số đó, cách thứ 3 và 4 được xem là gần với thực tế nhất. Đặc điểm chung của chúng là dựa nhiều vào sự điểm yếu con người hơn là kỹ thuật. Điều này nghe có vẻ đơn giản, nhưng lại rất phổ biến trong chiến tranh mạng. Công chúng thường nghĩ rằng những chiến dịch như vậy sẽ cần những hacker xuất chúng, cùng với những công nghệ tân tiến nhất mới có thể đột nhập vào hệ thống của đối phương. Nhưng trên thực tế thì sự bất cẩn của con người mới chính là thứ 'vũ khí' nguy hiểm nhất trong chiến tranh mạng. Mọi biện pháp an ninh mạng sẽ trở nên vô nghĩa nếu chỉ tập trung vào khía cạnh kỹ thuật mà quên mất yếu tố con người.

Đầu năm nay, Bộ An ninh nội địa Mỹ (DHS) thực hiện một cuộc kiểm tra bí mật, theo đó các đĩa CD và USB được đặt trên mặt đất tại các bãi đậu xe của các toà nhà chính phủ. Có đến 60% trong số này được các nhân viên trong các toà nhà đó nhặt lên và cắm vào máy tính để xem bên trong có gì. Nếu các thiết bị lưu trữ này có chứa các chương trình gây hại, cả hệ thống máy tính có thể bị lây nhiễm. Cuộc kiểm tra cho thấy mức độ tò mò và thờ ơ của đa số người dùng máy tính lớn như thế nào. 

Sự thông dụng và tiện lợi của USB biến nó thành 1 cơn ác mộng thực sự cho việc bảo vệ không gian mạng. Nó có thể dễ dàng được dùng để lây nhiễm các chương trình gây hại như trong trường hợp của Stuxnet hay cuộc kiểm tra bí mật của DHS. Ngoài ra, do quá nhỏ gọn, nó cũng rất dễ bị mất. Nếu có ai đó lưu thông tin nhạy cảm vào USB và làm đánh rơi nó, đó sẽ là một thảm hoạ. Bộ Quồc phòng Mỹ từng cấm hẳn việc sử dụng USB do nguy cơ đối với an ninh mạng. Tuy vậy sau đó lệnh cấm này cũng được giảm nhẹ, theo đó các loại USB đặc biệt dành riêng cho quân đội Mỹ vẫn sẽ được phép sử dụng. 

Một phương thức đơn giản nhưng nguy hiểm khác cũng dựa trên sự lơ là của con người là qua email. Năm ngoái,  tất cả quân nhân đóng tại một căn cứ không quân Mỹ ở đảo Guam nhận được một email với nội dung mời tham gia các vai quần chúng trong bộ phim bom tấn Transformers 3 sắp được quay tại Guam. Những ai muốn tham gia chỉ cần click vào một đường link và điền thông tin cá nhân vào 1 bản đăng ký online. Tất nhiên email đó là giả, và Transformers 3 không hề được quay tại Guam, những email này do chính quân đội Mỹ gửi đi để kiểm tra mức độ cảnh giác của các quân nhân trước những nguy cơ an ninh mạng. Kết quả cụ thể của đợt kiểm tra này được giữ bí mật, tuy nhiên số người mở email và click vào đường link bên trong lớn hơn con số dự đoán, và tất nhiên điều này không thể làm quân đội Mỹ cảm thấy yên tâm.

Việc sử dụng những email giả mạo để lừa người nhận bấm vào một đường link hay tải về 1 file đính kèm tuy là 1 phương thức đơn giản nhưng lại khá hiệu quả. Số người bị đánh lừa có thể chỉ chiếm 1 tỷ lệ rất ít, nhưng trong 1 mạng máy tính chỉ cần 1 máy bị nhiễm chương trình gây hại cũng có thể ảnh hưởng cả hệ thống. Một ví dụ khác là việc Mỹ từng công bố một loạt email của các hacker TQ gửi đến nhiêu quan chức cao cấp của Bộ Ngoại Giao và Nhà Trắng. Những email này được cá nhân hoá một cách rất chuyên nghiệp nhằm làm cho người nhận tin rằng mình đang nhận được chuyển tiếp (forward) 1 bản nháp Tuyên bố chung giữa Mỹ và TQ, và sẽ download file dạng .doc này. Trên thực tế bên trong file văn bản đó là 1 chương trình gián điệp dùng để đánh cắp mật khẩu truy cập email. 

Bộ quốc phòng Mỹ chính là nơi đã tạo ra mạng Internet, và hiện nay nó cũng là tổ chức có nhiều người dùng (user) mạng máy tính nhất. Tổng cộng Bộ quốc phòng Mỹ có hơn 2,000 mạng máy tính lớn nhỏ khác nhau. Rất nhiều biện pháp an ninh nghiêm ngặt được đặt ra để bảo đảm an toàn cho các mạng lưới này. Ví dụ bạn không thể sử dụng tài khoản email cá nhân mà chỉ dùng email riêng của Bộ quốc phòng. Mọi chương trình chia sẻ file ngang hàng (vd Torrent) đều bị cấm. Việc cài đặt bất kì phần mềm hay phần cứng nào đều phải được sự cho phép. 

Lây nhiễm từ gốc

Một trong những nguy cơ lớn nhất trong chiến trang không gian điều khiển là các phần cứng đã được cài đặt sẵn các chương trình phá hoại. Khi lắp đặt hệ thống, ít ai có thể nghĩ rằng những thiết bị mới cứng, còn nguyên thùng lại có thể chứa những quả bom nổ chậm bên trong. Lúc này, 'giặc' đã ở sẵn trong nhà và mọi biện pháp phòng ngừa sau này đề có rất ít hiệu quả. Hồi năm 2007, báo chí Đài Loan từng loan tin về việc một lô ổ cứng sẳn xuất tại Thái Lan bị nhiễm sẵn phần mềm gián điệp trước khi chúng được nhập vào Đài Loan. Những máy tính sử dụng những ổ cứng này khi kết nối vào Internet sẽ tự động gửi dữ liệu về một máy chủ đặt tại Bắc Kinh. 

Tuy vậy ví dụ trên cũng chưa thể so sánh được với những gì đang diễn ra trong thực tế giữa Mỹ và TQ. Trong năm 2010, Cục Nhập cư và Hải quan Mỹ đã thực hiện 20,000 vụ bắt giữ các lô hàng thiết bị điện tử giả. Các thiết bị giả kém chất lượng đã len lỏi vào cả các hệ thống vũ khí của Mỹ, dẫn đến suy giảm độ tin cậy của các vũ khí đó từ 5% - 15%, theo như ước tính của Bộ Quốc Phòng Mỹ. Và không ai biết liệu tất cả các thiết bị giả đó chỉ đơn giản là kém chất lượng, hay có cài thêm các chương trình phá hoạ tương tự như Stuxnet. Nếu TQ thành công trong việc đưa các thiết bị của mình vào những hệ thống quan trọng trong vũ khí của Mỹ, TQ có thể vô hiệu hoá chúng trong trường hợp có chiến tranh giữa 2 nước.  

Trên thực tế, Mỹ hiểu rõ hơn ai hết tác hại của kiểu phá hoại này, vì họ từng thực hiện điều tương tự với LX trong Chiến tranh lạnh. Cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ 20, tình báo Liên Xô đẩy mạnh các nỗ lực tình báo công nghiệp nhằm đánh cắp các công nghệ của phương Tây. Khi phát hiện ra điều nay, CIA quyết định dùng cách gậy ông đập lưng ông, và cài các chương trình phá hoại vào các thiết bị được đưa sang Liên Xô, và gây ra nhiều thiệt hại vật chất lớn. Nổi bật nhất là vụ nổ tại 1 đoạn trong đường ống khí đốt Liên Siberi vào tháng 6/1982. Vụ nổ có sức công phá tương đương 3,000 tấn thuốc nổ TNT, là vụ nổ nhân tạo phi hạt nhân lớn nhất từng được ghi nhận.

Những cuộc chiến thầm lặng 

Những trường hợp phá hoại như Stuxnet, tuy vậy, khá hiếm hoi. Hình thức chiến tranh mạng chủ yếu giữa các quốc gia là nhằm đánh cắp thông tin của nhau. Trường hợp đột nhập đánh cắp thông tin mật của chính phủ đầu tiên được ghi nhận là vào những năm 80 của thế kỷ trước, Lầu Năm Góc phát hiện 1 nhóm hacker Tây Đức được KGB thuê để đột nhập vào mạng máy tính của quân đội Mỹ. Hiện nay, trong số những nước có tiềm lực chiến tranh mạng, TQ được xem là nước tích cực nhất trong việc tấn công các nước khác. Đầu tháng 8 vừa qua, công ty bảo mật McAfee công bố phát hiện về một vụ đánh cắp dữ liệu quy mô lớn, mà nạn nhân bao gồm nhiều quốc gia và tổ chức lớn, bao gồm cả Liên Hiệp Quốc. Mỹ là mục tiêu chính, với 49 trong số 72 mạng máy tính bị đột nhập thuộc về nước này. Trong số đó bao gồm mạng của phòng thí nghiệm hạt nhân Bộ Năng Lượng Mỹ, cùng nhiều công ty công nghiệp quốc phòng, xây dựng, thép, năng lượng, công nghệ, tài chính và truyền thông. Chiến dịch đột nhập này đã diễn ra từ năm 2006 hay thậm chí sớm hơn, và không ai biết chính xác những thông tin nào đã bị đánh cắp, nhưng một điều chắc chắn rằng đó là 1 lượng thông tin khổng lồ, lên đến hàng triệu gigabyte. McAfee cũng cho biết nguồn gốc của những cuộc tấn công là từ Trung Quốc, mặc dù hãng này cũng thận trọng khi cho rằng điều này không có nghĩa là chính phủ TQ đứng sau vụ này. Tuy nhiên, với mức độ tinh vi và quy mô rộng lớn của cuộc tấn công này, gần như chắc chắn đây là 1 hành động của chính phủ.   

Vụ rò rỉ thông tin đình đám nữa là việc hàng ngàn gigabyte thông tin liên quan đến chương trình chiến đấu cơ tàng hình F-35 bị đánh cắp, những thông tin này chủ yếu liên quan đến thiết kế thân máy bay và hệ thống điện tử, đây đều là những phần tối quan trọng của F-35. Theo những gì đã được công bố thì đây là một chiến dịch có chủ đích và cực kỳ tinh vi, phức tạp. Từ 2007, kẻ tấn công đã tìm cách đột nhập vào hệ thống máy tính của các nhà thầu chính trong dự án này. Thậm chí thủ phạm còn mã hoá các thông tin bị đánh cắp nên không ai có thể xác định chính xác những thông tin nào đã bị mất. Nhiều dấu vết cho thấy cuộc tấn công bắt nguồn từ Trung Quốc. Nhưng về mặt kỹ thuật, điều này chưa đủ là bằng chứng để kết luận chắc chắn TQ đã thực hiện cuộc tấn công. Cộng với yếu tố chính trị, Mỹ không đưa ra bất kì lời cáo buộc nào. Đây không phải là trường hợp ngoại lệ, vì những lí do tương tự như trên nên rất ít khi có một quốc gia nào đó bị buộc tội liên quan đến những cuộc tấn công trên không gian mạng.   

Khi nói về những tập đoàn quốc phòng lớn, thực hiện những dự án quân sự bí mật của chính phủ, người ta thường nghĩ đây cũng là những công ty có hệ thống an ninh mạng tân tiến nhất. Nhưng trên thực tế thì trong khu vực tư nhân, các tập đoàn tài chính, ngân hàng mới đứng thứ nhất trong việc đầu tư vào an ninh mạng, vì những thiệt hại gây ra trong lĩnh vực này có tính tức thời và rất cụ thể về mặt tài chính. Trong khi đó, giả sử 1 công ty quốc phòng bị 1 nước khác đột nhập vào hệ thống máy tính và đánh cắp thông tin về 1 loại vũ khí mới, thì có thể phải mất nhiều năm nữa người ta mới có thể cảm nhận được những thiệt hại, bởi vì quá trình phát triển 1 loại vũ khí có thể mất từ 10 - 20 năm. Do đó bản thân các công ty quốc phòng không cảm thấy một áp lực tức thời trong việc đầu tư hệ thống an ninh mạng của mình.

Các chuyên gia tin rằng đây cũng chỉ mới là phần nổi của tảng băng liên quan đến việc TQ tìm cách đánh cắp thông tin của Mỹ thông qua chiến tranh mạng. Sự hung hãn của TQ trong không gian điều khiển là động lực chính để quân đội Mỹ tìm cách gây sức ép lên chính phủ và quốc hội để yêu cầu có được quyền hạn và sự chủ động lớn hơn. Chiến lược an ninh của Mỹ trên không gian mạng trước kia nặng về phòng thủ. Lầu Năm Góc muốn được quyền đáp trả khi bị tấn công, và muốn chiến tranh mạng cũng được công nhận tương đương với các hình thức chiến tranh quy ước khác.  

Mỹ không phải là mục tiêu duy nhất của TQ. Các nước phương Tây khác cũng thường xuyên là nạn nhân của các chiến dịch đánh cắp thông tin của TQ. Ví dụ như 4 năm trước, các mạng máy tính của chính phủ Đức bị đột nhập, bao gồm cả văn phòng thủ tướng Angela Merkel. Hơn 160 Gigabyte thông tin mật bị chuyển về các máy tính ở TQ. Tất nhiên TQ không phải là nước duy nhất xem Mỹ là mục tiêu chính. Cách đây 3 năm, một chương trình gián điệp của Nga đã tìm đường xâm nhập vào mạng bảo mật SIPRNET của Lầu Năm Góc. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc 1 binh sĩ Mỹ đóng tại Trung Đông đã cắm 1 ổ lưu trữ USB bị nhiễm chương trình đó vào laptop đang kết nối với SIPRNET. Và trong suốt 3 năm, Lầu Năm Góc vẫn chưa thể quét sạch được chương trình này hoàn toàn khỏi mạng máy tính của mình.

Một quốc gia nữa nổi bật trên 'chiến trường ảo' toàn cầu hiện nay là Bắc Triều Tiên. Nguồn cung cấp chính cho đội quân mạng của nước này là Đại học Mirim, hay còn được biết đến như Doanh trại 144. Trong những năm 1980, Mirim là nơi chuyên đào tạo các chuyên viên tác chiến điện tử. Đến những năm 90, nó bổ sung thêm chức năng đào tạo hacker chuyên nghiệp. Mỗi năm trường nhận 120 học sinh và sinh viên xuất sắc nhất từ các trường trung học và đại học khác. Chương trình đào tạo kéo dài đến 5 năm. Trường còn có chương trình thạc sĩ. Đặc biệt cơ sở này nhận được sự nâng đỡ rất lớn của lãnh đạo Kim Young IL, vì ông này rất yêu thích máy tính và các thiết bị điện tử. Trong lĩnh vực này, Hàn Quốc có vẻ chậm chân hơn đối thủ của mình, khi đến giữa năm nay, quân đội HQ mới khởi động việc thành lập 1 khoa đào tạo chuyên ngành chiến tranh mạng. Mỗi năm sẽ có 30 suất học bổng toàn phần trong 4 năm, bù lại những sinh viên tốt nghiệp sẽ phục vụ 7 năm trong quân đội. 

Ban đầu những cuộc tấn công trên không gian mạng của Bắc Triều Tiên nhắm vào Hàn Quốc chỉ ở quy mô rất nhỏ, và không mấy nguy hiểm. Ví dụ như cuộc tấn công vào ngày 4 tháng 7, 1999 nhằm vào các websites của chính quyền Mỹ và HQ. Đó chỉ đơn thuần là 1 cuộc tấn công từ chối dịch vụ (DDOS)  nhằm làm ngưng trệ các websites. Nhưng theo thời gian mức độ nghiêm trọng ngày càng lớn, bao gồm cả việc đánh cắp thông tin. Bắc Triều Tiên từng lấy được thành công bản kế hoạch hành động của quân đội Mỹ và Hàn Quốc trong trường hợp miền Bắc sụp đổ. Theo ước tính của tình báo Hàn Quốc, trung bình mỗi ngày có đến 15,000 cuộc tấn công lớn nhỏ khác nhau từ Bắc Triều Tiên. Mỹ cũng là 1 mục tiêu chính, theo Lầu Năm Góc thì các máy tính từ Bắc Triều Tiên nằm trong số những khách viếng thăm thường xuyên nhất của các trang web quân sự Mỹ. 

Đa số các thông tin về các hoạt động chiến tranh mạng đều cho thấy Mỹ là nạn nhân. Điều này là 1 nghịch lý nếu xét đến việc Mỹ vẫn là cường quốc số 1 về công nghệ thông tin hiện nay. Một trong những lí do có thể là việc các nước khác không có 1 cơ chế thông tin cởi mở như tại Mỹ, do đó đa số những vụ tấn công đều không bị công khai. Trên thực tế, ngay cả TQ cũng thường xuyên là mục tiêu. Theo như chính phủ TQ thì nước này mỗi năm chịu gần 250,000 cuộc tấn công trong không gian mạng xuất phát từ nước ngoài. Trong đó 14.7% từ Mỹ và 8% từ Ấn Độ.

Thách thức pháp lý 

Hiện nay chiến tranh trên không gian điều khiển vẫn còn ở vùng tranh tối tranh sáng cả về mặt kỹ thuật và pháp lý. Ngay cả khi có thể lần ra dấu vết của những cuộc tấn công về 1 quốc gia cụ thể nào đó, cũng chưa chắc có thể chứng minh về sự liên đới của quốc gia đó, đôi lúc những hacker có thể giả nguồn gốc của các cuộc tấn công, ví dụ như bằng cách sử dụng các botnet. Hoặc chính phủ các nước có thể  tuyên bố rằng đó chỉ là hành động tự phát của 1 nhóm cá nhân. Và thật sự thì không dễ để có thể chứng minh được rằng liệu 1 nhóm nào đó có được sự ủng hộ ngầm từ chính quyền hay không. Ví dụ như vụ tin  tặc tấn công các mạng máy tính của Estonia, sau khi nước này di dời tượng đài Hồng quân Liên Xô, và Grudia, trong cuộc chiến Nga-Grudia. Cả Estonia và Grudia đều cáo buộc Nga đứng sau vụ này. Estonia thậm chí còn yêu cầu NATO can thiệp. Tuy vậy Nga chối bỏ mọi cáo buộc và cho biết đó chỉ là hành động tự phát của các nhóm hacker theo chủ nghĩa dân tộc. 

Trên thực tế, việc các chính phủ tận dụng lòng yêu nước, tự hào dân tộc để ngầm khuyến khích các nhóm hacker tấn công những mục tiêu nước ngoài là khá phổ biến. Có thể xem đây gần như là những 'du kích mạng', và con số này có thể rất lớn. Ví dụ như Thổ Nhĩ Kỳ có 45,000, A rập Saudi có hơn 100,000, Iraq hơn 40,000, Nga hơn 100,000 và TQ hơn 400,000. Trong vụ Estonia bị tin tặc tấn công, nguồn của những đợt tấn công từ chối dịch vụ (DDOS) đầu tiên có thể dễ dàng được truy ngược trở về các máy tính của chính phủ Nga. Sau khi tin này bị công bố ra ngoài, cuộc tấn công dừng lại trong vài ngày. Sau đó nó tiếp tục, nhưng lần này là bắt nguồn từ các máy tính của cá nhân. 

Tuy vậy, khi mà mức độ nguy hiểm của những cuộc tấn công 'ảo' ngày càng tăng, và gây ra các thiệt hại không còn 'ảo' nữa, thì nguy cơ về việc chúng sẽ dẫn đến những cuộc tấn công trả đũa quân sự cũng rõ ràng hơn. Theo như chiến lược an ninh mạng mới nhất của Mỹ, một cuộc tấn công trong không gian ảo có thể được xem như một hành động gây chiến, và như vậy có thể được đáp trả bằng các hành động quân sự. Một viễn cảnh trong đó Mỹ phóng tên lửa hành trình phá huỷ một toà nhà nơi có các hacker đang đột nhập phá hoại mạng máy tính của quân đội Mỹ là có thể xảy ra, ít nhất là trên lý thuyết. Được gọi là học thuyết 'Tương đương', theo đó nếu thiệt hại gây ra bởi một cuộc tấn công ảo tương đương với thiệt hại gây ra bởi một loại vũ khí thông thường, Mỹ sẽ trả đũa bằng hành động quân sự tương ứng. Hiện tại, học thuyết này chủ yếu đóng vai trò răn đe chứ ít có khả năng được dùng trong thực tế. Mỹ cũng đang tích cực thảo luận với các đồng minh để đạt tới sự đồng thuận về cách thức phản ứng trong những trường hợp như vậy. 

Mỹ - "Trận chiến Los Angeles" hay "Trận chiến của Thuỷ quân lục chiến"

"Trận chiến Los Angeles" (Battle: LA) không phải là 1 bộ phim quá hoành tráng về mặt kỹ xảo, nhưng bù lại rất lôi cuốn với tiết tấu nhanh, cực kì sống động, hình ảnh và âm thanh được chăm chút tốt, cốt truyện khá hợp lý, rất ít cảnh thừa. Nói tóm lại khán giả gần như không thể rời mắt khỏi màn hình trong suốt cả bộ phim.

'Trận chiến Los Angeles' có cảm hứng dựa trên một sự kiện có thật vào đêm 24, rạng sáng ngày 25 tháng 2 năm 1942. Khi đó, thành phố Los Angeles được báo động vì có 1 cuộc không kích của phát xít Nhật sắp xảy ra. Lực lượng phòng không bắn lên hơn 1,400 phát đạn phòng không. Nhưng trên thực tế thì không hề có một cuộc tấn công nào. Cuộc điều tra sau đó cho rằng nguyên nhân của vụ báo động giả này là sự kết hợp giữa  tình trạng căng thẳng mà nước Mỹ đang trải qua chưa đầy 3 tháng sau vụ Trân Châu Cảng, một cảnh báo từ cục tình báo hải quân 1 ngày trước đó, và sự xuất hiện của 1 số khí cầu khí tượng. Tuy nhiên nhiều người tin rằng đã có các UFO xuất hiện trong đêm đó.

Trung tâm của bộ phim là một nhóm thuỷ quân lục chiến Mỹ chiến đấu chống lại cuộc tấn công của người ngoài hành tinh vào thành phố Los Angeles. Hiển nhiên là bộ phim đã PR rất tốt cho lực lượng TQLC Mỹ. Đây cũng chỉ là 1 trong rất nhiều bộ phim tương tự xoay quanh TQLC Mỹ. Có thể nói TQLC Mỹ không chỉ đơn thuần là 1 lực lượng quân sự mà đã trở thành 1 trong những biểu tượng của nước Mỹ, 1 hình tượng rất quen thuộc trong phim ảnh, luôn được Hollywood ưu ái hơn bất kì lực lượng nào khác. Vậy điều gì đã tạo nên sự nổi tiếng đó.

Trước tiên hãy điểm qua 1 số điều nên biết về thuỷ quân lục chiến nói chung và thuỷ quân lục chiến Mỹ nói riêng.

Nếu như lục quân, không quân, hải quân là một khái niệm quen thuộc với mọi người thì thuỷ quân lục chiến hơi phức tạp hơn. Có thể chia binh chủng này thành 2 loại: 'Naval Infantry' và 'Marines'. Naval Infantry có thể xem như phần của hải quân, trang bị nhẹ, nhiệm vụ chủ yếu là đảm bảo an ninh cho các cơ sở, căn cứ hải quân trên bờ, hoặc thực hiện 1 số chiến dịch có quy mô hạn chế trên cạn. Marines ngược lại có mức độ độc lập tác chiến cao hơn, có thể chiến đấu như 1 đơn vị bộ binh sâu bên trong đất liền. Tất nhiên sự phân loại và so sánh này chỉ mang tính tương đối, việc một nước quyết định chọn tên gì không phụ thuộc vào bất kì 1 tiêu chí nào.

TQLC Mỹ là 1 trong 4 quân chủng của quân đội Mỹ, ngang hàng với Hải lục không quân, và là quân chủng nhỏ nhất, chỉ chiếm khoảng 6%-7% tổng ngân sách quốc phòng. Tuy vậy quy mô của nó (hơn 200,000 người) cũng đã lớn toàn bộ quân đội của nhiều quốc gia.

TQLC Mỹ có thể xem như 1 quân đội nhỏ. Nó có đầy đủ các binh chủng thành phần để tác chiến độc lập trên bộ. Nó có bộ binh, không quân, pháo binh, thiết giáp, trực thăng…riêng. Không lực của TQLC Mỹ bao gồm chiến đấu cơ F-18 hoạt động trên các tàu sân bay cỡ lớn, và các chiến đấu cơ lên thẳng Harrier hoạt động trên các tàu hỗ trợ đổ bộ. TQLC Mỹ sử dụng xe tăng chủ lực Abram tương tự như của lục quân, xe bọc thép bánh hơi LAV, xe bọc thép lội nước AAV. Pháo binh bao gồm các giàn pháo hoả tiễn GMLRS dẫn đường bằng vệ tinh với tầm bắn 90km và dộ chính xác tương đương bom thông minh, pháo 155mm M777 siêu nhẹ với trọng lượng chỉ bằng 1 nửa so với pháo cùng loại, vào pháo cối các cỡ. Lực lượng trực thăng bao gồm trực thăng hạng nặng Super Stallion, Chinook, trực thăng đa dụng Black Hawk, Huey, trực thăng vũ trang Cobra, phi cơ chong chóng lật Osprey…Nói cách khác, trong số các lực lượng TQLC trên thế giới, TQLC Mỹ vượt xa về trang bị và khả năng tác chiến độc lập.

Sở dĩ như vậy là do TQLC Mỹ có tính chất giống như 1 lực lượng viễn chinh phản ứng nhanh toàn cầu của quân đội Mỹ. Trong chiến tranh nó sẽ đóng vai trò mở đường, chiếm giữ trước khi lực lượng chính được triển khai. TQLC Mỹ khi trực chiến được biên chế thành những đơn vị viễn chinh quy mô tiểu đoàn, trung đoàn và lữ đoàn đóng ngay trên các tàu hỗ trợ đổ bộ lênh đênh trên biển. Những đơn vị này có tính độc lập và cơ động cao, với đầy đủ các đơn vị trên không, trên bộ, và được trang bị đủ cho khoảng 30 ngày. Sau đó các đơn vị lục quân sẽ tiếp quản nhiệm vụ từ TQLC.

Trong nhiều bộ phim TQLC Mỹ thường được mô tả như một lực lượng tinh nhuệ, bản thân những người lính TQLC cũng thích nghĩ về mình như vậy. Nhưng thật sự thì về bản chất, TQLC Mỹ chỉ là 1 lực lượng quân sự chính quy thông thường, vì không ai có thể tạo và duy trì một lực lượng đặc biệt đông tới 200,000 người. Về mặt này, không thể không nhắc tới một lực lượng TQLC khác ít nổi tiếng hơn nhiều, đó là TQLC Hoàng gia Anh (Royal Marines). TQLC Hoàng gia có quy mô nhỏ, và mức độ tinh nhuệ cao hơn TQLC Mỹ nói chung.

Tuy vậy, bản thân TQLC Mỹ cũng có những đơn vị con rất tinh nhuệ, bao gồm trinh sát đặc nhiệm (Force Recon), lính bắn tỉa, và Lực lượng đặc nhiệm TQLC (MARSOC).

Mặc dù là quân chủng nhỏ nhất trong quân đội Mỹ, các thành viên của TQLC đặc biệt tự hào về lực lượng của mình. Một người sẽ luôn tự coi mình là línhTQLC ngay cả khi đã giải ngũ. Điều này cũng góp phần tạo nên sự nổi tiếng của TQLC trong phim ảnh. Có một số lí do góp phần tạo nên 'thương hiệu' cho TQLC Mỹ như sau:

Thứ nhất, TQLC Mỹ có nguồn gốc lâu đời, từ thời kì chiến tranh giành độc lập của nước Mỹ khỏi Anh quốc, và đã tham gia nhiều cuộc chiến kể từ đó. Tuy vậy TQLC bắt đầu nổi tiếng trong công chúng kể từ trận đánh ở rừng Belleau trong Thế chiến thứ 1, trong đó TQLC chịu tổn thất nặng nề nhưng đã ngăn được đà tấn công của quân đội Đức về phía Paris. Để ghi nhớ công lao này, người Pháp đã đổi tên khu rừng thành "Rừng thuỷ quân lục chiến".

Về mặt chiến lược, trận chiến này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì trước Thế chiến thứ 1, về mặt sức mạnh quân sự, Mỹ vẫn chỉ được xem dưới các cường quốc châu Âu một bậc. Ngay cả khi Mỹ quyết định gửi quân đội trực tiếp tham chiến tại châu Âu, cùng phe Liên minh Anh-Pháp chống lại Đức, giới quân sự châu Âu vẫn còn nghi ngờ quyết tâm và khả năng chiến đấu thật sự của người Mỹ. Trận chiến tại rừng Belleau đã giúp dẹp bỏ sự nghi ngờ đó.

Khác với các quân chủng còn lại, Tổng thống Mỹ có thể ra lệnh cho TQLC tham chiến mà không cần sự cho phép của Quốc Hội trong 1 khoảng thời gian nhất định.

TQLC đặc biệt nổi tiếng nhờ vào Thế chiến thứ 2, từ  những trận đánh khốc liệt với quân đội Thiên hoàng trên các đảo ở Thái Bình Dương như Guadalcanal, Tarawa, Saipan, Peleliu, Iwo Jima hay Okinawa.

Trong Thế chiến thứ 2, mặc dù chính sách chung của chính phủ Mỹ luôn là 'Âu trước, Á sau", nghĩa là ưu tiên đánh bại phát xít Đức trước, nhưng với công chúng Mỹ, mặt trận Thái Bình Dương lại có ý nghĩa quan trọng hơn, do phát xít Nhật bị căm ghét nhiều hơn kể từ sau Trân Châu Cảng. Vì vậy mỗi trận đánh của TQLC tại mặt trận này đều được công chúng đặc biệt quan tâm.

Cũng phải nói thêm rằng sự nổi tiếng này còn có nguyên do từ khả năng PR tốt của TQLC. Trong các trận chiến tại Thái Bình Dương, thực sự số lượng TQLC tham chiến ít hơn các đơn vị của lục quân. Nhưng với đa số công chúng thì hầu như mọi chiến công đều liên quan đến TQLC.

Một khía cạnh nữa tạo nên sức hấp dẫn của TQLC trong công chúng là quân chủng này luôn duy trì được hình ảnh 'nam tính' truyền thống của mình. Tất cả quân nhân thuộc TQLC, cho dù chỉ làm công tác hậu cần, quản lý…đều được huấn luyện như 1 lính bộ binh chiến đấu. Khi tuyển quân, nếu như các quân chủng khác thường tìm cách thu hút tân binh bằng việc giới thiệu các vũ khí tối tân, các lợi ích khi nhập ngũ thì TQLC lại cảnh báo về sự gian khổ sẽ chờ đợi tân binh, và báo trước rằng chỉ có 1 số ít người đủ khả năng tham gia lực lượng này.

TQLC còn tự hào về tính hiệu quả của mình. Cụ thể chỉ với 6-7% ngân sách quốc phòng, TQLC cung cấp đến 20% sức mạnh tác chiến của quân đội Mỹ. Tuy nhiên, điều này một phần là do mọi công tác hậu cần khi tham chiến của TQLC lại do hải quân Mỹ đảm nhiệm nên một phần kinh phí thực cho TQLC nằm trong số ngân sách được phân bổ cho hải quân.

Sức mạnh thương hiệu và sự tồn tại của TQLC

Trên thực tế, sức mạnh 'thương hiệu' rất quan trọng với lực lượng này vì trong suốt lịch sử của mình, TQLC thường đối mặt với nguy cơ bị giải tán hoặc sáp nhập vào các quân chủng lớn hơn.

Ví dụ sau Thế chiến thứ 2, nhiều ý kiến cho rằng TQLC gắn liền với các chiến dịch đổ bộ, nhưng trên thực tế đa số các chiến dịch đổ bộ lớn như ở Bắc Phi, Italia, và Normandy được thực hiện bởi các đơn vị lục quân thông thường. Ngay cả tại chiến trường Thái Bình Dương, số lượng lính lục quân tham chiến cũng đông hơn TQLC.

Khi đó TQLC phản bác rằng đó là do quy mô quân số của TQLC nhỏ hơn nhiều so với lục quân. Ngoài ra, chính TQLC là người đã phát triển các kỹ chiến thuật thiết yếu cho các chiến dịch đổ bộ. Chiến tranh Triều Tiên sau đó bùng nổ đã làm tạm dịu đi các tiếng nói đòi giải tán TQLC.

Thời gian gần đây, việc giải thể TQLC Mỹ lại được nhắc đến. Lí do là vì trong khi TQLC thường được gắn liền với các chiến dịch đổ bộ, thì các tiến bộ trong kỹ thuật quân sự đã làm cho những chiến dịch đổ bộ cổ điển kiểu như Normandy cực kì khó khăn. Sự phổ biến của tên lửa khiến cho việc triển khai các tàu chiến gần bờ lần rất nguy hiểm. Lần cuối cùng một chiến dịch như vậy diễn ra cách đây đã nửa thế kỷ, vào chiến tranh Triều Tiên, khi TQLC đổ bộ tại Inchon và đánh thọc sườn quân đội Bắc Triều Tiên, đánh dấu bước ngoặt của cuộc chiến. Kể từ đó đến nay không còn một cuộc đổ bộ cổ điển nào nữa nữa.

Trong chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ 1, TQLC Mỹ triển khai ngoài khơi Kuwait với vai trò nghi binh, làm Saddam tin rằng Mỹ sẽ thực hiện một chiến dịch đổ bộ lớn vào bờ biển Kuwait. Trong đêm trước khi chiến dịch trên bộ bắt đầu, Force Recon của TQLC và đặc nhiệm SEAL bí mật bơi vào và đặt nhiều khối thuốc nổ trên bờ biển. Những vụ nổ làm phía Iraq lầm tưởng phía Mỹ đang bắn pháo mở đường và càng tin vào kế nghi binh đó. Vì vậy một lực lượng lớn quân Iraq bị trói chặt vào việc phòng thủ nơi không nằm trong hướng tấn công của quân Mỹ.

Trong các cuộc chiến lớn sau đó, bao gồm chiến tranh Vùng Vịnh 2, chiến tranh tại Afghanistan, TQLC cũng tham chiến giống như các đơn vị lục quân thông thường. Do đó, nhiều người cho rằng nên sáp nhập TQLC vào lục quân.

Về phần mình, TQLC lập luận rằng mình vẫn thực hiện các chiến dịch 'đổ bộ', nhưng bằng phương tiện khác, là trực thăng, thay vì các tàu đổ bộ như kiểu cổ điển. Ngoài ra, TQLC cũng phát triển học thuyết mới, phù hợp với tình hình hiện tại, trong đó nêu rõ nhiệm vụ của mình mà 'chiến thắng trong những cuộc chiến nhỏ', những cuộc xung đột không cần thiết phải huy động một lực lượng quân sự hùng hậu mà cần khả năng phản ứng nhanh lẹ.

Có thể thấy trong bất cứ tình huồng nào, TQLC Mỹ luôn có một lợi thế khổng lồ trong việc tồn tại, đó chính là hình ảnh 'thương hiệu' của mình.

'Người hùng Nantz' và Hạ sĩ quan chuyên nghiệp

Một chi tiết trong bộ phim mà với nhiều người có thể là hơi khó hiểu, đó là nhân vật chính Michael Nantz mặc dù đã có kinh nghiệm chinh chiến dày dạn 20 năm, nhưng chỉ đeo lon trung sĩ, thấp đến 7 bậc so với thiếu uý William Martinez, một sĩ quan mới vừa ra trường, và được chỉ định chỉ huy trung đội TQLC trong phim. Trên thực tế Michael là người chịu trách nhiệm lãnh đạo chính nhờ vào kinh nghiệm chiến đấu lâu năm của mình.

Tuy nhiên đây là 1 điều rất bình thường trong quân đội một số nước phương tây. Trên thực tế, đây là một trong những trụ cột quan trọng nhất của sức mạnh quân sự các nước như Mỹ, Anh…mà ít người biến đến, đó là các hạ sĩ quan chuyên nghiệp như trung sĩ Michael Nantz trong phim.

Đối với đa số các quốc gia, chỉ có các cấp sĩ quan chuyên nghiệp (cấp uý trở lên). Chuyên nghiệp ở đây có nghĩa là chọn binh nghiệp là nghề nghiệp chính của mình, gắn bó 1 thời gian dài với nó. Các hạ sĩ quan (hạ, trung, thượng sĩ) cũng giống như binh lính thường, sau 1 thời gian sẽ giải ngũ trở lại cuộc sống dân sự. Những nước này thường có số lượng sĩ quan rất đông.

Nhưng quân đội nhiều nước phương tây có truyền thống phát triển một lực lượng hạ sĩ quan rất đông đảo, trong khi giữ số lượng sĩ quan ở mức thấp, theo đúng như mô hình kim tự tháp (cấp càng cao thì số lượng càng ít). Thường thì những hạ sĩ quan này ban đầu là binh lính, sau một thời gian phục vụ đã chứng tỏ được năng lực và tố chất chỉ huy của mình, nên được thuyết phục đi theo con đường binh nghiệp lâu dài, có thể đến hàng chục năm, nhưng không thăng cấp lên các cấp bậc sĩ quan. Những hạ sĩ quan này đóng vai trò là 'lớp đệm' giữa cấp sĩ quan và binh lính, là người trực tiếp chỉ huy và dẫn dắt binh lính trong chiến đấu, dựa vào kinh nghiệm và uy tín của mình.

Ưu điểm lớn nhất của mô hình này là quân đội có sự được khả năng lãnh đạo và kinh nghiệm ngay cả những cấp thấp nhất. Có nghĩa là ngay cả một tiểu đội, trung đội, một tổ lái xe tăng cũng có được sự dẫn dắt của những người đã có hàng chục năm kinh nghiệm chiến đấu.

Ngoài ra, trong cuộc sống và hoạt động hàng ngày, các hạ sĩ quan chuyên nghiệp này cùng trực tiếp ăn ở, sinh hoạt với binh lính nên đảm bảo tốt kỷ luật, giảm thiểu tình trạng 'ma cũ ma mới' đối với tân binh.

Một ưu điểm nữa của mô hình này là việc một phần trong số các hạ sĩ quan chuyên nghiệp này sẽ đóng vai trò là các chuyên viên kỹ thuật. Số lượng này trong quân đội nói chung càng ngày càng tăng và càng quan trọng do hàm lượng công nghệ kỹ thuật trong quân đội cũng tăng lên nhiều. Nếu không có lượng hạ sĩ quan chuyên nghiệp đông đảo, quân đội sẽ phải sử dụng các sĩ quan cho những vị trí này, gây ra sự lãng phí. Một ví dụ nhỏ là trên các tàu ngầm hạt nhân của LX/Nga, khoảng 50% thuỷ thủ đoàn là sĩ quan, trong khi con số này của tàu ngầm Mỹ chỉ khoảng 10%.

Năm 1988, Tổng tham mưu trưởng Hống quân Liên Xô, Nguyên soái Akhromeyev có chuyến thăm Mỹ. Trong lịch trình bao gồm căn cứ Hood, là căn cứ thiết giáp lớn nhất của Mỹ. Các sĩ quan Mỹ chuẩn bị để trình diễn cho Nguyên soái các thiết bị, vũ khí mới nhất của mình, trong đó có xe tăng M1 Abrams. Nhưng Akhromeyev không quan tâm nhiều đến vũ khí mà lại chủ yếu muốn tìm hiểu về đời sống của các lính tăng bình thường. Ông này rất ngạc nhiên khi gặp những trung sĩ, hạ sĩ có đến gần 20 năm thâm niên, trong lúc đa số lính tăng của LX chỉ có 18 tháng kinh nghiệm.


Hiện nay, Nga vẫn đang cố gắng cải tổ mô hình hiện tại, giảm số lượng sĩ quan và tăng số hạ sĩ quan chuyên nghiệp như mô hình các nước phương tây. Quân đội Nga hiện có 1,2 triệu người, nhưng có đến hơn 300,000 sĩ quan. Chính phủ Nga mong muốn cắt giảm 1 nửa số này. Ngoài ra, số lượng học viện đào tạo sĩ quan cũng sẽ bị cắt giảm từ 60 xuống 10 trường.

"Thứ nhất sợ kẻ anh hùng…"

Cùng nhìn lại 2 sự kiện có ảnh hưởng lớn nhất đến tình hình bán đảo Triều Tiên gần đây từ nhiều góc độ.

Phân tích kỹ thuật về vụ tàu Cheonan

Vào ngày 26/03/2010, tàu Cheonan của hải quân Hàn Quốc nổ tung và chìm xuống đáy biển cùng với 46 thuỷ thủ. Nghi phạm chính là Bắc Triều Tiên, sử dụng ngư lôi loại Yu-3G của Trung Quốc.

Một trong những giả thiết cho rằng vụ nổ là một tai nạn liên quan đến tháp pháo 76mm ở đuôi tàu, có thể là do hoả hoạn. Đó loại pháp tự động tốc độ cao do hãng OTO MELARA (Ý) chế tạo, một loại pháo rất phổ biến trên các chiến hạm phương tây. Tuy nhiên về mặt kỹ thuật giả thiết này rất khó có thể xảy ra. Gần như chỉ có 1 khả năng khiến cho cơ số đạn pháo này bị kích nổ là do một vụ nổ lớn khác, ví dụ như khi tháp pháo bị trúng đạn của đối phương. Còn trong trường hợp xảy ra hoả hoạn, số thuốc nổ trong đạn pháo cũng không phát nổ ngay lập tức mà sẽ tiếp tục cháy 1 thời gian. Ngoài ra, các tháp pháo loại này còn được thiết kế với phần đáy được gia cố chắc chắn hơn, do đó trong trường hợp xảy ra nổ thì lực nổ cũng sẽ được hướng lên trên.

Một khả năng khác là vụ nổ gây ra bởi mìn chạm nổ sót lại từ thời chiến tranh Triều Tiên. Loại mìn này trôi nổi trên mặt biển hoặc được gắn dưới đáy biển bằng dây cáp và sẽ bị kích nổ khi va chạm với tàu. Tuy nhiên như vậy thì vụ nổ đáng lẽ phải xảy ra ở phần đầu con tàu thay vì phần đuôi như thực tế.

Nói chung các giả thiết liên quan đến các loại khí tài còn sót lại từ chiến tranh Triều Tiên khó có thể xảy ra khi xét đến việc vị trí xảy ra vụ nổ rất gần bờ, nghĩa là đã có nhiều tàu thuyền khác có thể đã đi ngang khu vực đó trong hơn nửa thế kỷ qua. Theo cư dân sinh sống quanh đó, mỗi ngày có đến khoảng 200 tàu thuyền các loại đi qua khu vực đó. Ngoài ra, mọi loại vũ khí đều có 1 tuổi thọ nhất định. Sau hơn 50 năm thì nhiều khả năng những quả mìn trên không còn hoạt động nữa.

Một khả năng khác được nhắc đến là đội người nhái cảm tử của hải quân BTT. Thông tin này đến từ một số binh sĩ BTT đào ngũ sang phía nam cung cấp. Theo đó, đơn vị này được tuyển chọn từ những thành viên ưu tú nhất của lực lượng đặc công thuỷ, được trang bị và đãi ngộ rất tốt, nhưng cùng với đó là 1 chế độ huấn luyện cực kỳ khắc nghiệt. Đơn vị này ra đời sau cuộc xâm lăng chớp nhoáng của quân đội Mỹ nhằm vào Iraq năm 2003. Theo đó lãnh đạo Kim Nhật Thành cho rằng việc sử dụng các lực lượng phi chính quy, như các đội đánh bom cảm tử hồi giáo, là cách hiệu quả hơn để chống lại bộ máy quân sự của Mỹ. Do đó cả 3 quân chủng hải lục  không quân đều thành lập những đội cảm tử riêng của mình. Mật danh của đơn vị cảm tử không quân là "bất bại", của lục quân là "bom sống" và của hải quân là 'ngư lôi sống'. Trong đó, các đơn vị của hải quân được đặc biệt coi trọng, vì sau cuộc hải chiến năm 1999, phía BTT nhận định rằng mình không thể đánh bại hải quân Hàn Quốc bằng các phương cách chính quy. Chiến thuật chính của các đơn vị này là dùng các tàu ngầm mini chở các cảm tử quân vào vùng biển Hàn Quốc và những người này sau đó sẽ gắn mìn vào tàu chiến Hàn của đối phương.

Có 2 vấn đề lớn đối với giả thiết này. Thứ nhất là lượng thuốc nổ mà một thợ lặn có thể đem theo quá nhỏ để có thể bẻ gãy 1 con tàu. Thứ hai là vùng nước mà tàu Cheonan bị chìm rất nguy hiểm cho việc lặn, với các dòng hải lưu chảy xiết, và nhiệt độ nước thấp vào thời điểm trên. Một bằng chứng rõ ràng là việc một thợ lặn của hải quân Hàn Quốc đã thiệt mạng trong quá trình trục vớt con tàu.

So với các loại khí tài khác, ngư lôi hiện đại là cách hiệu quả nhất để đánh đắm một con tàu. Ngư lôi cổ điển, cũng như đa số các loại mìn, dùng cơ chế chạm nổ để đục một lỗ thủng trên thân tàu bên dưới mớn nước để làm ngập con tàu. Do các tàu chiến luôn được chia thành nhiều khoang riêng biệt, không thấm nước, do đó thường phải dùng nhiều ngư lôi để đánh đắm 1 con tàu, và cũng thường mất khá nhiều thời gian trước khi con tàu bị ngập đủ nước để chìm.Ví dụ như lớp tàu Pohang, mà Cheonan là 1 trong số đó, có đến khoảng 100 ngăn kín không thấm nước, mặc dù Pohang không phải là một tàu chiến loại lớn.  Ngư lôi hiện đại dùng cơ chế hoàn toàn khác. Nó sẽ phát nổ ngay bên dưới con tàu, cách đáy tàu khoảng vài mét, và bẻ gãy con tàu làm đôi và nhấn chìm nó trong nháy mắt. Nhưng chính xác thì bằng cách nào nó có thể làm được như vậy?

Khi một ngư lôi nổ bên dưới và cách con tàu 1 khoảng, nó tạo ra 3 hiệu ứng, hay 3 giai đoạn khác nhau. Nếu hệ thống dẫn đường của ngư lôi hoạt động tốt, nó sẽ phát nổ ở vị trí ngay giữa con tàu. Trong giai đoạn đầu, vụ nổ tạo ra 1 'bong bóng' khổng lồ ngay bên dưới con tàu, bong bóng này giãn nở với tốc độ cực nhanh và ép vào lớp nước giữa nó và con tàu, do đó phần thân tàu ngay bên trên vụ nổ sẽ bị nâng lên, và làm sống tàu bị bẻ cong. Trong giai đoạn 2, lúc này bong bóng khí đã giãn nở tối đa, nó bị vỡ và giải phóng toàn bộ năng lượng đang bị nhốt bên trong. Năng lực này khi được giải phóng sẽ ép lớp nước bên dưới tàu và bắn nó lên trên, xuyên qua những vết nứt ở đáy tàu tạo ra trong giai đoạn 1, giống như một con dao bằng nước cắt xuyên qua con tàu. Hiệu ứng này cũng gần giống hiệu ứng luồng xuyên của các đầu đạn chống tăng. Giai đoạn này tạo sẽ ra 1 cột nước khổng lồ đặc trưng. Trong giai đoạn 3, sau khi bong bóng vỡ và bắn 1 lượng nước lớn lên không trung, nó sẽ 'khoét' 1 lỗ ngay bên dưới con tàu, khi mà nước chưa kịp lấp vào, và phần giữa của con tàu sẽ 'rơi' lại vào cái lỗ này, khiến cho sống tàu bị bẻ cong 1 lần nữa, lần này ngược hướng với giai đoạn 1. Phần lớn thiệt hại gây ra trong giai đoạn 1 và 3, khi mà con tàu bị bẻ cong lên và xuống. Sự kết hợp của 2 hiệu ứng này gần như chắc chắn làm cho cả con tàu bị gãy làm đôi.

Như vậy sự tham gia của lớp nước giữa con tàu và ngư lôi có tác dụng cộng hưởng làm tăng sức công phá của ngư lôi, làm cho nó hiệu quả hơn so với các loại vũ khí khác (bom, tên lửa…) với cùng 1 khối lượng chất nổ.

Ngoài ra, một loại khí tài nữa có thể gây tác dụng tương tự là mìn cảm ứng. Loại mìn này được đặt dưới đáy biển hoặc lơ lửng trong nước và được cố định bằng 1 sợi cáp gắn vào đáy biển. Khi tàu chạy qua bên trên khu vực đó mìn sẽ được kích nổ bằng cảm biến từ trường, hoặc âm thanh…Do mìn cũng nổ bên dưới con tàu, hiệu quả mà nó tạo ra cũng gần giống với ngư lôi. Tuy nhiên, theo thống kê chính thức hiện nay thì Bắc Triều Tiên sử dụng các loại mìn M-8, M-12, M-16, M-26, tất cả đều là mìn chạm nổ. Ngoài ra các loại mìn này thường có lượng thuốc nổ khá nhỏ, không đủ tạo hiệu ứng có thể cắt đôi con tàu.

Ngoài ra, tất cả các giả thiết liên quan đến mìn đều có 1 điểm yếu là không ai có thể biết chính xác con tàu sẽ đi qua vị trí nào và do đó xác suất chỉ một quả mìn mà có thể đánh trúng con tàu là cực thấp và không đáng phải mạo hiểm để làm.

Khả năng cuối cùng liên quan đến mìn là mìn tự hành. Loại này được đặt dưới đáy biển, khi có tàu chiến đối phương đi ngang qua gần đó, một phần của thiết bị sẽ được phóng ra đuổi theo con tàu. Trên thực tế, loại vũ khí này gần giống một ngư lôi tự hành hơn là 1 loại mìn. Tuy nhiên, thường thì chúng được thiết kế để chống tàu ngầm, và không phù hợp với vùng nước nông như khu vực tàu Cheonan bị chìm.

Một điều đặc biệt là từ lời kể của những người sống sót trên tàu và cư dân trên đảo, không ai nhận thấy có ánh lửa từ vụ nổ mặc dù khi đó đang là buổi tối. Không ai trong số những thuỷ thủ sống sót bị phỏng, hoặc ngửi thấy mùi chất nổ. Điều này khẳng định việc vụ nổ xảy ra dưới nước. Nếu vụ nổ xảy ra ngay bên trong lòng con tàu, hoặc khi có một thiết bị nổ được gắn vào đáy tàu, chắc chắn nó sẽ gây ra cháy và các nhân chứng sẽ phải thấy ánh sáng từ vụ nổ. Chi tiết này giúp củng cố việc loại bỏ các giả thuyết về tai nạn liên quan đến đạn pháo trong con tàu hoặc người nhái gắn mìn vào bên dưới đáy tàu, hoặc một thiết bị nổ được lén đưa lên tàu. Tương tự, một tàu tuần duyên Hàn Quốc cũng có mặt ở gần nơi xảy ra vụ việc và đã đến ngay sau khi xảy ra vụ nổ để cứu thuỷ thủ đoàn tàu Cheonan. Theo đoạn video quay từ tàu tuần duyên đó, có thể thấy không hề có khói và lửa tại hiện trường.

Cũng theo lời thuật lại của những người sống sót, bao gồm cả thuyền trưởng, con tàu đã bị nhấc bổng khỏi mặt nước ít nhất nửa mét, đặc điểm quan trọng của một vụ nổ do ngư lôi.

Ngoài ra còn có một bằng chứng khác khẳng định nhận định trên. Một thuỷ thủ khác cho biết anh ta bị đánh thức bởi tiếng nổ và thấy phần đuôi tàu cách anh ta chưa đầy nửa mét đã biến mất. Nếu vụ nổ xảy ra bên trong con tàu, áp lực chắc chắn sẽ giết chết người này. Nhân chứng này trên thực tế còn sống sót mặc dù ở rất gần vụ nổ là nhờ lớp nước giữa ngư lôi và con tàu đóng vai trò 1 lớp đệm chặn sức ép của vụ nổ không cho nó lan truyền vào bên trong tàu.

Trên thực tế, sau khi con tàu được trục vớt, có thể nhận thấy rõ các cấu trúc kim loại bên trên của Cheonan đều bị uốn cong lên trên, một bằng chứng rõ ràng cho thấy vụ nổ xảy ra bên dưới tàu.

Tại hiện trường các thợ lặn còn thu thập được các mẫu kim loại hợp kim nhôm - manhê được sử dụng làm vỏ ngoài của ngư lôi. Người ta còn tìm thấy dấu vết của RDX, loại chất nổ dùng trong ngư lôi.

Trong báo cáo cuối cùng, nhóm điều tra đa quốc gia xác nhận nguyên nhân gây ra vụ Cheonan là do 1 ngư lôi hạng nhẹ loại CHT-02D của BTT. Một phần của ngư lôi, bao gồm chân vịt, động cơ đẩy và 1 phần bánh lái được trục vớt.

Như vậy sau khi xem xét các yếu tố kỹ thuật, ta có thể gần như chắc chắn rằng loại vũ khí được dùng để đánh đắm tàu Cheonan là ngư lôi. Câu hỏi còn lại là ai đã thực hiện vụ tấn công, bằng phương tiện gì, và nó diễn ra như thế nào.

Theo báo cáo chính thức thì một tàu chiến khác của Hàn Quốc, chiếc Sokcho, ở gần đó đã nã pháo suốt 15 phút liền vào một mục tiêu trên radar, với tổng cộng 130 phát đạn, mà theo phía Hàn Quốc thì đó chỉ là một bầy chim. Tuy nhiên có thể khẳng định gần như chắc chắn rằng đẩy chỉ là một sự che đậy, vì mọi lực lượng quân sự chính quy đều có các quy tắc giao chiến chặt chẽ, nhất là tại một khu vực nhạy cảm như tại vùng ranh giới giữa 2 miền Triều Tiên. Không một thuyền trưởng nào có thể pháo kích 15 phút liên tục trong 1 tình huống không rõ ràng. Chỉ có một khả năng duy nhất là tàu Cheonan đã bị tấn công từ bên ngoài.

Một số thuỷ thủ đang liên lạc với người thân bằng điện thoại di động khi vụ việc xảy ra. Họ phải chấm dứt cuộc gọi vào khoảng 21h16 phút vì có một tình huống khẩn cấp đang diễn ra. Còn vụ nổ xảy ra vào khoảng 21h21. Vào khoảng 21h25, thuyền trưởng Choi Won-il gửi một tin nhắn bằng điện thoại di động đến Bộ tư lệnh Hạm đội 2 thông báo rằng Cheonan bị tấn công

Loại phương tiện đáng nghi nhất được sử dụng là các loại tàu ngầm mini mà Bắc Triều Tiên thường sử dụng để chuyên chở các nhóm đặc tình đột nhập vào trong lãnh thổ Hàn Quốc. Những tàu ngầm mini này, một số thực chất là những tàu cao tốc có khả năng chạy ngầm dưới mặt nước. Khi nổi lên, chúng có thể di chuyển với vận tốc rất lớn, gần 80 km/h, ví dụ như loại Taedong của Bắc Triều Tiên. Tốc độ này cũng tương đương với tốc độ một đàn chim đang bay.

Chỉ ngay sau tàu Cheonan bị đánh đắm, tư lệnh hạm đội Tây của hải quân Bắc Triều Tiên, Jeong Myung Do được thăng chức lên đại tướng, tư lệnh hải quân. Trước đó, hạm đội này đã được đặt trong tình trạng báo động từ tháng 3, mọi ngày phép đều bị huỷ bỏ. Theo lời một số lính miền Bắc bỏ ngũ sang miền Nam thì một hội nghị đã được tổ chức tại Nampo, nơi đặt tổng hành dinh của hạm đội Tây, vào ngày 16/2 (cũng là ngày sinh nhật của lãnh đạo Kim Young IL). Kết quả của hội nghị là quyết định phải trả thù cho thất bại trong cuộc hải chiến diễn ra vào tháng 11/2009, mà trong đó 10 thuỷ thủ BTT thiệt mạng, đồng thời khiến tư lệnh hạm đội Tây khi đó bị mất chức.

Một câu hỏi được đặt ra là tại sao tàu Cheonan lại bị một tàu ngầm đánh chìm khi mà bản thân nó là một tàu chống tàu ngầm? Sự thật thì mặc dù được gọi như vậy, Cheonan nói riêng và toàn bộ lớp Pohang nói chung không được trang bị tốt cho vai trò này. Thông thường tàu chống tàu ngầm được trang bị 2 loại sonar: 1 là loại được gắn cố định vào thân tàu, và 2 là loại sonar dưới dạng 1 sợi cáp dài được kéo theo phía sau tàu. Cheonan chỉ được trang bị loại thứ nhất, và cũng chỉ với kích thước nhỏ. Vấn đề chính là kích thước của con tàu đã hạn chế việc trang bị những loại sonar lớn hơn, mạnh hơn. Lớp Pohang chỉ có lượng choán nước 1,200 tấn, trong khi loại tàu được dự kiến sẽ thay thế nó trong tương lai có lượng choán nước tới 2,300 tấn. Trên thực tế, nó chỉ thích hợp đối với việc săn tìm những tàu ngầm loại cũ thời chiến tranh lạnh của của BTT ngoài biển xa. Đối với những tàu ngầm mini loại mới, hoạt động gần bờ, Cheonan gần như không hiệu quả. Vùng biển duyên hải gần bờ luôn gây rất nhiều khó khăn cho việc săn tìm tàu ngầm. Những dòng nước chảy xiết, mật độ hoạt động cao của tàu bè gần bờ, âm vang do sự phản xạ của sóng âm thành vào đáy biển và bờ biển…tất cả những yếu tố trên kết hợp tạo ra rất nhiều nhiễu loạn cho thiết bị sonar.

Trên thực tế thì đây không phải là lần đầu mà cả 2 bên che đậy những sự việc như vậy. Trong thực tế kể từ sau khi ký hiệp định ngừng bắn, một cuộc chiến cường độ thấp vẫn âm thầm diễn ra tại các khu vực giáp ranh giữa 2 miền. Theo ước tính cho tới năm 1989 chỉ riêng số quân nhân Mỹ thiệt mạng trong các trận giao tranh như vậy là hơn 140 người. Đó là chưa tính đến những vụ khủng bố, phá hoại nổi tiếng khác của phía Bắc Hàn, bao gồm việc tấn công vào Phủ Tổng thống Hàn Quốc, cho nổ tung một máy bay chở khách hay đặt bom nhắm vào 1 đoàn quan chức cao cấp của HQ tại Miến Điện. Nói chung trong thời kỳ chiến tranh lạnh, những vụ va chạm giữa các lực lượng quân sự của 2 phía đối địch là khá phổ biến, bao gồm cả giữa Mỹ và Liên Xô, với nhiều vụ kết thúc với thiệt hại về phương tiện hay cả nhân mạng. Tuy nhiên công chúng đa số không biết về những sự việc này. Sự kiện Cheonan tuy vậy không giống các vụ việc tương tự trong quá khứ, với con số thiệt hại nhân mạng rất lớn và thông tin đến với công chúng gần như ngay lập tức.

Khu vực tàu Cheonan bị chìm là một vị trí hoàn hảo cho những cuộc đụng độ như vậy. Con tàu bị chìm ở vùng biển quanh đảo Baengnyeong, một trong những phần lãnh thổ xa nhất của Hàn Quốc, rất gần bờ biển BTT. Trên thực tế hòn đảo này còn nằm gần Bình Nhưỡng hơn Seoul. BTT cho rằng hòn đảo này, cùng 1 đảo khác là Daecheong, đáng lẽ phải thuộc về mình, lí do là nếu đường phân chia 2 miền trên bộ được kéo dài ra biển thì 2 hòn đảo này cùng vùng biển quanh đó sẽ thuộc về miền bắc. Chỉ riêng trong 1 thập niên qua đã có 3 cuộc đụng độ giữa hải quân 2 miền tại khu vực này, mà trong đó ưu thế thường nghiêng về miền Nam.

Có thể thấy rõ sự lúng túng và mâu thuẫn trong nội bộ chính phủ Hàn Quốc giữa việc che đậy vụ việc như những lần khác và việc công bố sự thật. Tiêu biểu trong nhóm thứ 2 là Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Kim Tae-Young. Là 1 cựu quân nhân và theo đường lối cứng rắn với miền Bắc, ông này trước kia từng 2 lần cảnh báo rằng nếu biết chắc rằng phía BTT sắp tấn công, miền Nam sẽ ra tay trước.  Trong khi mà mọi quan chứ cấp cao khác trong nội các, thậm chí ngay cả tướng Walter Sharp - tư lệnh lực lượng Mỹ đồn trú tại HQ, tìm cách giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của vụ việc thì Kim Tae-Young không hề ngần ngại trong việc chỉ đích danh BTT như nghi phạm chính. Ngày 29/3, trong buổi điều trần trước QH, ông này cho rằng có thể miền Bắc đã cố tình đặt mìn. Bốn ngày sau, cũng trước QH, ông này cho rằng ngư lôi là nguyên nhân hợp lý hơn. Trong lúc đó, các nguồn chính thức khác từ nội các đề cập đến vô số các giả thiết khác nhau, kể cả các giả thiết phi lý nhất như tàu bị mắc cạn, va phải 1 rặng san hô... Đến ngày 6/4, một tờ báo của HQ chụp được 1 bức ảnh từ phía sau ông Kim Tae-Young, lúc đó đang cầm 1 bản ghi nhớ được viết tay. Nội dung trong đó là "nhớ nói rằng ông chỉ biết về nguyên nhân sau khi con tàu được trục vớt, đúng như những gì chúng ta đã đồng ý. Và quân đội đang điều tra mọi khả năng và ông không nghiêng về bất cứ giả thiết nào. Tổng thống Lee muốn ông nói rằng việc2 tàu ngầm của miền Bắc biến mất khỏi căn cứ chỉ có nghĩa là quân đội không biết chúng đang ở đâu, và không có mối liên hệ trực tiếp nào giữa sự kiện này và vụ chìm tàu".

Sự khác biệt về quan điểm giữa Bộ trưởng BQP và các thành viên dân sự của nội các cho thấy sự bất mãn âm ỉ của giới quân sự Hàn Quốc trước việc phải thường xuyên kiềm chế trước các hoạt động khiêu khích của BTT từ trước cho tới nay. Khác với đồng minh Mỹ, chức vụ Bộ trưởng BQP tại HQ vẫn do các tướng lĩnh quân đội nắm giữ thay vì các quan chức dân sự, do đó việc "lệch pha" ngay trong nội bộ chính phủ HQ là ko thể tránh khỏi.

Trên thực tế, ngay sau khi tàu Cheonan bị chìm, tình báo quân đội HQ đã gửi 1 báo cáo cho Tổng thống Lee Myung-bak, khẳng định chắc chắn sự dính líu của phía BTT vào sự kiện Cheonan. Thậm chí trong báo cáo còn nêu rõ rằng tình báo quân đội tin rằng ngư lôi là thủ phạm làm chìm tàu

Điều trớ trêu là những chính sách ưu đãi của HQ cho BTT theo chính sách Ánh Dương cũng trực tiếp tăng cường sức mạnh quân sự của miền Bắc. Ví dụ như một số cáp quang mà miền Nam cung cấp cho miền Bắc để sử dụng cho đường dây liên lạc giữa 2 miền đã bị chuyển sang sử dụng cho mục đích quân sự. Việc này khiến cho HQ gặp rất nhiều khó khăn trong việc do thám BTT.

Có một thực tế rõ ràng là Hàn Quốc không ở trong điều kiện có thể thực hiện các hành động quân sự. Seoul, thủ đô và là trung tâm kinh tế chính của Hàn Quốc với 25% dân số, nằm trọn trong tầm pháo kích của pháo binh BTT, đặc biệt là từ Quân đoàn pháo binh 620 và Kangdong. Mỗi quân đoàn có từ 6 đến 12 lữ đoàn, mỗi lữ đoàn có từ 35 - 70 pháo các loại, tổng cộng là gần 1,200 đơn vị. Nói cách khác, BTT có thể nhấn chìm Seoul trong biển lửa trong nháy mắt.

Vụ pháo kích đảo Yeonpyeong

Khi vụ việc Cheonan vừa lắng dịu, ngày 23/11/2010, Bắc Triều Tiên bất ngờ pháo kích dữ dội Yeonpyeong, một hòn đảo nhỏ của HQ gần ranh giới trên biển của 2 miền. Vụ pháo kích làm 2 thường dân và 2 lính thuỷ đánh bộ HQ thiệt mạng, cùng nhiều thiệt hại về vật chất. Khác với vụ Cheonan, chính Bắc Triều Tiên xác nhận mình đã thực hiện vụ pháo kích này và mục tiêu bao gồm cả dân thường.

Trước tiên hãy xem lại chi tiết sự việc xảy ra

Bản đồ bên dưới cho thấy vị trí của đảo Yeonpyeong, đường ranh phân chia trên biển (màu xanh), và đường ranh mới mà Bắc Triều Tiên tự đặt ra từ 1999. Khung chữ nhật màu đỏ là khu vực triển khai các khẩu đội pháo của Bắc Triều Tiên. Khu vực này có thể được xem rõ hơn trong hình chụp vệ tinh ngay bên dưới.



Trong ảnh vệ tinh, là nơi BTT triển khai khẩu đội pháo hoả tiễn BM-21 dùng để tấn công đảo Yeonpyeong. Khẩu đội có 6 xe pháo, mỗi xe chứa 40 hoả tiễn cỡ 122mm. Tổng cộng có 170 hoả tiễn được phóng về phía đảo Yeonpyeong. Trong đó 80 quả rơi trúng đảo, số còn lại rơi xuống vùng biển chung quanh. 20 trong số 80 quả đó không phát nổ.



Vụ pháo kích làm 2 thường dân và 2 lính thuỷ đánh bộ đóng quân trên đảo thiệt mạng. Một trong số 2 lính thuỷ đánh bộ khi đó vừa được nghỉ phép và đang đợi ở bến tàu để về đất liền. Khi vụ tấn công xảy ra, người này liền quay trở lại doanh trại và tử thương do bị trúng đạn pháo.

Lực lượng HQ đồn trú trên đảo phản pháo kích 13 phút sau đó, sử dụng pháo tự hành K-9. Tổng cộng khoảng 80 phát đạn được phía HQ bắn đi. Một số rơi phía sau vị trí khẩu đội BM-21, cách khoảng 80m. Trong hình dưới, những vòng tròn màu vàng đánh dấu vị trí các hố đạn do đợt phản pháo kích của phía HQ. Nhiều khả năng phía BTT không chịu nhiều thiệt hại vì có thể các giàn pháo hoả tiễn đã kịp di chuyển ra khỏi đó, và khu vực nơi đạn pháo HQ rơi chủ yếu là đất bùn.

Trong ảnh vệ tinh có thể thấy rõ 6 công sự đất được đắp để bảo vệ cho các giàn hoả pháo. Vào thời điểm ảnh được chụp thì tất cả xe đã di chuyển ra khỏi vị trí, nhưng vẫn còn có thể thấy các vệt cháy xém (được đánh dấu mà xanh lục) gây ra do luồng phản lực của hoả tiễn. Vị trí số 6, ở dưới cùng, không thấy có vết cháy xém, chứng tỏ khẩu đội đã di chuyển đi trước khi sử dụng toàn bộ hoả lực của mình, có thể là do phía BTT phát hiện đợt phản pháo kích của phía HQ.



Có thể thấy khả năng tác chiến của pháo binh BTT qua cuộc tấn công này là không cao. Hơn phân nửa số tên lửa không rơi trúng đảo, một mục tiêu có kích thước rất lớn. Tỷ lệ đạn lép cao. Đặc biệt là không thể phối hợp để tất cả số phi pháo đến mục tiêu cùng lúc. Đối với hoả lực pháo binh, đa số thương vong gây ra trong khoảng thời gian rất ngắn lúc đầu, sau đó binh lính tại vị trí bị pháo kích đã kịp tìm nơi ẩn nấp. Do đó lý tưởng nhất là phối hợp sao cho tất cả số đạn pháo đều đến mục tiêu gần như cùng lúc.

Ngoài ra, còn phải xét đến yếu tố đây là một cuộc tấn công đã được lên kế hoạch từ trước, nghĩa là phía BTT có nhiều thời gian để chuẩn bị, cũng như có thể tuyển chọn, sử dụng phương tiện, con người tốt nhất cho chiến dịch này. Do đó, kết quả của cuộc pháo kích này để lại dấu hỏi lớn về năng lực thật sự của lực lượng quân sự BTT. Cần nhớ sức mạnh pháo binh đóng vai trò trung tâm trong khả năng răn đe của phía BTT đối với HQ.

Trên thực tế, chắc chắn phía BTT cũng đã tính đến khả năng của pháo binh HQ, đặc biệt là K-9, pháo tự hành cỡ 155mm do HQ tự sản xuất. Pháo hoả tiễn được chọn để thực hiện cuộc tấn công vì chúng có ưu điểm là nhịp bắn và tính cơ động cao. Các giàn hoả pháo có thể di chuyển đến vị trị chọn sẵn, khai hoả toàn bộ hoả lực của mình và di chuyển đi chỉ trong 1 thời gian ngắn.

Tuy nhiên pháo hoả tiễn có điểm yếu là độ chính xác kém. Nó chỉ phù hợp trong việc tiêu diệt sinh lực đối phương trong một khu vực rộng lớn, ngoại lệ duy nhất hiện nay là hệ thống GMLRS của quân đội Mỹ, do sử dụng cơ chế dẫn đường bằng vệ tinh nên có độ chính xác tương đương bom thông minh. BTT phải trả giá cho độ chính xác kém bằng việc dân thường chiếm đến 1 nửa thương vong cho dù mục tiêu chính của cuộc tấn công là nhằm vào lực lượng thuỷ quân lục chiến đang đồn trú trên đảo, đặc biệt là đơn vị pháo binh K-9, vì nếu vô hiệu hoá được lực lượng này thì BTT cũng loại bỏ được nguy cơ bị phản pháo kích. Tuy nhiên rõ ràng mục tiêu đó đã không đạt được, khi chỉ gây ra hư hại nhẹ cho một số pháo K-9 trong khi lại gây thiệt hại nặng cho các mục tiêu dân sự.

Đối với các nước có liên quan

Hàn Quốc

Trong vụ Cheonan, sau khi chính phủ HQ công bố kết quả điều tra chính thức của đội điều tra quốc tế, ngay trong dân chúng HQ cũng có rất nhiều người không tin rằng BTT là thủ phạm. Không ít người theo thuyết âm mưu còn tin rằng chính Mỹ và chính phủ HQ đã dàn dựng lên vụ việc. 60 năm đã qua đi và còn rất ít người HQ còn nhớ tới chiến tranh Triều Tiên. Đa số giới trẻ cũng không nhớ, hay không biết tới những vụ tấn công tương tự của BTT, vốn chủ yếu xảy ra từ những năm 70 trở về trước. Một bộ phận khá lớn người dân HQ hiện nay có tư tưởng chống sự hiện diện của quân đội Mỹ, cho rằng đó là nguồn gốc căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên, và có sự thông cảm giành cho BTT. Tuy nhiên, sau vụ tấn công vào đảo Yeonpyeong ít ai có thể nghi ngờ sự đồng thuận trong nội bộ chính phủ và người dân HQ trong việc lên án BTT.

Cuộc pháo kích vào Yeonpyeong chắc chắn sẽ tạo sự liên tưởng đến vụ chìm tàu Cheonan chỉ vài tháng trước và vô tình càng khiến nhiều người tin rằng chính BTT là thủ phạm vụ tàu Cheonan. Lần đầu tiên trong hơn 1 thập niên, truyền thông và công chúng Hàn Quốc công khai gọi BTT là 'kẻ thù'.

2 vụ việc trên có thể coi như những giọt nước làm tràn ly, khi mà sự thông cảm của người dân Hàn Quốc dành cho BTT đã bị bào mòn dần qua việc BTT, bất chấp chính sách thân thiện 'Ánh Dương', vẫn tiếp tục chương trình phát triển hạt nhân và tên lửa của mình. Chính sách 'Ánh Dương' thực chất là việc HQ cố gắng 'mua' hoà bình từ miền Bắc thông qua các chương trình viện trợ rộng rãi. Việc ông Lee Myung-bak, người theo đường lối cứng rắn được bầu lên làm TT, đã đánh dấu sự thất bại của chính sách Ánh Dương và sự thay đổi thái độ của người dân HQ đối với BTT.

Quân đội HQ đặc biệt bị chỉ trích nặng nề trong cả 2 vụ tấn công. Trên thực tế ngay từ năm ngoái, sau vụ tàu Cheonan, Uỷ ban thanh tra và kiểm toán quốc gia HQ đã công bố một bản báo cáo, trong đó chỉ trích nặng nề quân đội HQ. Trong đó bao gồm việc không tăng cường cảnh giác sau vụ giao tranh trên biển hồi tháng 11/2009, phớt lờ yếu kém trong khả năng tác chiến chống tàu ngầm trong khu vực duyên hải. Bản báo cáo đề nghị kỷ luật 25 sĩ quan cao cấp có trách nhiệm trong vụ chìm tàu Cheonan.

Còn trong vụ Yeonpyeong, đây không phải là lần đầu đảo này bị tấn công. Tháng 1/2010, phía BTT cũng đã một lần pháo kích, nhưng không trúng đảo mà rơi xuống vùng biển xung quanh. Ngay sau đó Quốc hội HQ tổ chức 1 buổi điều trần, trong đó các tướng lĩnh bảo đảm rằng nếu phía BTT pháo kích một lần nữa, pháo binh HQ sẽ phản pháo lại ngay lập tức với số lượng pháo gấp 3 đến 4 lần số pháo của BTT. Nhưng thực tế diễn ra không đúng như vậy và uy tín của quân đội HQ một lần nữa bị sứt mẻ nghiêm trọng.

2 sự kiện Cheonan và Yeonpyeong bộc lộ những điểm yếu nội tại nghiêm trọng của quân đội Hàn Quốc cho dù trong những thập niên gần đây, sức mạnh quân sự của HQ đã có sự phát triển vượt bậc nhờ vào nền kinh tế thịnh vượng của mình. Sự chỉ trích đặc biệt nhắm vào các tướng lĩnh chỉ huy. Nhiều người HQ vẫn không quên thời kỳ độc tài quân sự từ những năm 60 đến đầu những năm 90. Mặc dù sự lãnh đạo của giới tướng lĩnh với đất nước đã kết thúc nhưng những người này vẫn còn giữ lại rất nhiều đặc quyền cho mình, và không bao giờ chấp nhận việc mình mắc sai lầm.

Tuy nhiên đã có sự thay đổi lớn lần này, khi chính quyền dân sự quyết định mạnh tay hơn trong việc cải tổ bộ máy lãnh đạo của quân đội. 60 trong số 440 tướng và đô đốc được dự kiến cắt giảm, sau đó con số này được giảm còn 30. Cuộc cải tổ còn bao gồm việc nâng cao chất lượng sĩ quan nói chung, ví dụ như từ nay các sinh viên sau khi hoàn thành khoá huấn luyện sĩ quan dự bị sẽ nghiễm nhiên trở thành sĩ quan ngay như trước nữa mà phải trải qua quá trình tuyển lựa. Việc huấn luyện cũng được thay đổi để giống với thực tế hơn. Nhiều binh sĩ trước kia được phân công vào các vị trí phục vụ cho các sĩ quan nay được chuyển sang các vị trí chiến đấu hoặc hỗ trợ chiến đấu. Một thay đổi lớn nữa là việc HQ chủ động yêu cầu hoãn quá trình chuyển giao quyền chỉ huy tối cao quân đội khi có chiến tranh từ Mỹ sang HQ.

Về một mặt nào đó, có thể xem các vấn đề của quân đội HQ một phần là do tác dụng phụ của thành công. Kể từ những năm 70 cho đến nay, khoảng cách về tiềm lực quốc phòng giữa 2 miền càng ngày càng được mở rộng, đến mức HQ cho rằng miền Bắc không còn là đối thủ chính của mình nữa, và bắt đầu hướng đến các mục tiêu xa hơn. Tiêu biểu chính là với hải quân Hàn Quốc. Nước này giờ đây có thể tự đóng những tàu khu trục có lượng choán nước gần 1 vạn tấn, còn lớn hơn cả các tàu cùng loại của hải quân Mỹ, và được trang bị những công nghệ hiện đại nhất, bao gồm cả hệ thống phòng không hợp nhất Aegis. Tham vọng của hải quân HQ là vươn lên trở thành lực lượng hải quân viễn dương, có khả năng tác chiến tầm xa, cạnh tranh với Nhật Bản và TQ. Tuy nhiên, chính vì vậy mà hải quân HQ đã xao lãng năng lực chống  các tàu ngầm mini trong khu vực duyên hải, vốn là thế mạnh của hải quân BTT, mà vụ tàu Cheonan là hậu quả trực tiếp.

Hàn Quốc tất nhiên không hề mong muốn chiến tranh liên Triều lại tái diễn. Cho dù HQ hiện nay có tiềm lực mạnh hơn người anh em miền Bắc của mình và nhiều khả năng giành chiến thắng cuối cùng thì BTT cũng sẽ kịp gây ra những thiệt hại khổng lồ cho nền kinh tế HQ. Tuy nhiên, còn 1 vấn đề lớn hơn nữa. Đó là chi phí khổng lồ cần thiết cho việc tái thống nhất 2 miền. Sự chênh lệch về trình độ là quá lớn, và việc phải gánh trách nhiệm tái thiết miền Bắc sẽ kéo lùi nền kinh tế HQ ít nhất là 1 thập niên. Vấn đề không chỉ nằm ở những sự chênh lệch về vật chất, mà còn là sự khác biệt về văn hoá, lối sống. Người dân BTT chắc chắn sẽ rất khó thích nghi với 1 xã hội hoàn toàn khác với những gì mình đã trải qua. Khi 2 miền nước Đức thống nhất, tuy có cũng có sự khác biệt, nhưng ít nhất thì cả 2 đều là những xã hội công nghiệp phát triển. Thống kê đối với những người tị nạn BTT đang sống ở HQ cho thấy có đến 30% trong số họ muốn rời HQ và đi đến sinh sống ở 1 nơi nào đó khác, 70% không có việc làm. Mỗi người tị nạn BTT khi đến HQ làm tiêu tốn của chính phủ nước này 100,000 dollar để ổn định ăn ở cho những người này.

Bắc Triều Tiên

Câu hỏi đặt ra là tại sao BTT lại thực hiện những vụ tấn công trên. Đối với vụ Cheonan, nguyên nhân trực tiếp là việc trả đũa cho thất bại trong trận hải chiến hồi tháng 11 năm 2009. Còn trong vụ pháo kích đảo Yeonpyeong, khó có thể chỉ rõ đâu là nguyên nhân trực tiếp. Tuy nhiên, có thể thấy cả 2 sự kiện trên đều có chung các các nguyên nhân sâu xa. Thứ nhất, đây gần như là 1 dạng 'tống tiền' của BTT, nhằm gây sức ép đối với TT Lee Myung-bak phải nối lại những ưu đãi như dưới thời kì 'Án Dương'. Thông điệp của miền Bắc là rất rõ ràng, nếu miền Nam không muốn rắc rối, hãy nối lại viện trợ ngay. Lí do thứ 2 liên quan đến việc lãnh đạo Kim Young IL chỉ định con út Kim Young Un lên làm người kế vị của mình. Bằng cách tạo sự căng thẳng với bên ngoài, Kim Young IL có thể tập trung sự ủng hộ trong nội bộ đất nước cho con mình. Hoặc có thể đưa chính Kim Young Un ra chỉ đạo những chiến dịch trên nhằm xác lập sự lãnh đạo của vị lãnh đạo trẻ với quân đội.

Mối lo lớn nhất của là Kim Young IL là đảm bảo được quyền lực của con trai sau khi mình qua đời. Kim Young Un vẫn còn quá trẻ, thiếu kinh nghiệm và tầm ảnh hưởng. Khi không còn cái bóng của cha mình thì vị thế rất dễ lung lay. Hơn ai hết, bản thân Kim Young IL hiểu rõ điều này. Kể từ khi được cha mình, Kim IL-Sung, chỉ định làm người kế vị (1974) cho đến khi chính thức nắm quyền (1994), Kim Young IL có đến 20 năm dưới sự dìu dắt của cha mình. Thời gian đó đủ dài để Kim Young IL tích luỹ kinh nghiệm, tập hợp đủ sự ủng hộ cho bản thân mình. Trong khi với tình hình sức khoẻ hiện nay, Kim Young IL khó có cơ hội dành nhiều thời gian như vậy cho con trai mình. Do đó Kim Young IL phải hành động một cách gấp gáp, và mắc sai lầm nghiêm trọng khi ra lệnh pháo kích đảo Yeonpyeong.

Tuy nhiên phải thấy rằng về bản chất, BTT cũng hoàn toàn không muốn phải lao vào cuộc chiến liên Triều một lần nữa. Vì lần này họ cũng khó có thể giành chiến thắng. Tất cả những gì mà giới lãnh đạo BTT mong muốn là duy trì được quyền lực của mình.

Trung Quốc

TQ là chỗ dựa duy nhất của BTT hiện nay. Có thể ví sự ủng hộ của TQ đối với nước này giống như 1 ống thở oxy đối với 1 người bệnh nặng. Thái độ của TQ đối với BTT trong 2 sự kiện trên phản ánh sự phức tạp trong vai trò của TQ đối với tình hình bán đảo Triều Tiên.

Về cơ bản, chính sách của TQ là ngăn không cho chiến tranh lại nổ ra và giữ không cho chính thể của BTT sụp đổ. Bởi vì hậu quả nhãn tiền sẽ là hàng triệu người tị nạn tràn vào TQ. Một cuộc chiến cũng sẽ tàn phá nền kinh tế HQ, một trong những đối tác kinh tế lớn nhất của TQ hiện nay. Và chiến tranh xảy ra, nhiều khả năng phía HQ sẽ là người chiến thắng, khi đó TQ sẽ có 1 nước đồng minh của Mỹ ngay sát biên giới của mình. Ngoài ra, phần lãnh thổ TQ giáp với BTT có đa số dân chúng là người gốc Triều Tiên. Sự thống nhất của 2 miền Triều Tiên có thể là chất xúc túc cho 1 phong trào li khai trong khu vực này. Giới lãnh đạo TQ hiện nay đã đủ đau đầu với các phong trào li khai khác.

Đối với vụ Cheonan, mặc dù không công khai chỉ trích, TQ cho thấy mình không hài lòng đối với hành động này của BTT. ngay sau vụ việc xảy ra, Kim Jong IL có 1 chuyến thăm nước này. Khi đó, phía TQ khá chắc chắn rằng chính BTT gây ra vụ này, nhờ vào mạng lưới tình báo sâu rộng trong lòng BTT. Tuy nhiên, Kim Jong IL liên tục phủ nhận trước các câu hỏi của các quan chức cấp cao TQ. Thay vào đó, Kim Jong IL lại yêu cầu được cung cấp 30 máy bay cường kích hải quân JH-7A cùng với các tên lửa diệt hạm C-801 và C-802. Nhưng phía TQ đã từ chối các yêu cầu này. Vài tháng sau đó, Kim Jong IL lại có một chuyến thăm TQ nữa, và tiếp tục đưa ra yêu cầu này. Phía TQ một lần nữa từ chối. Một phần lí do là vì bản thân hải quân TQ cũng đang rất cần những máy bay này, nhưng một phần khác là do TQ cảm thấy bất an trước cách hành xử hồ đồ của phía BTT.

Ba tháng sau vụ Cheonan là dịp kỷ niệm 60 năm ngày nổ ra chiến tranh Triều Tiên, 25/06/1950. Trong một bài viết trên tờ tạp chí International Herald Leader có đoạn "Quân đội BTT vượt qua biên giới 2 miền ngày 25/6 và Seoul bị chiếm 4 ngày sau đó". Bài báo này nhanh chóng lan truyền trước khi bị gỡ bỏ. Đây thực sự là 1 cú sốc trong giới truyền thông TQ vì từ trước đến nay trong mọi tài liệu TQ vẫn luôn khẳng định rằng chính Mỹ và HQ đã phát động chiến tranh trước. Tờ tạp chí này là một ấn bản thuộcTân Hoa Xã, cơ quan ngôn luận chính thức của TQ. Liệu đây là chỉ là kết quả của một sơ suất hay là một hành động ngầm nhắc nhở BTT?

Đối với vụ pháo kích đảo Yeonpyeong, TQ lại công khai ủng hộ BTT khi cho rằng Mỹ và HQ đã khiêu khích khi thực hiện một cuộc tập trận hải quân chung. Lí do cho sự thay đổi này không phải liên quan đến chính sách với bán đảo Triều Tiên mà đến từ sự phản đối ngày càng gay gắt của TQ đối với sự hiện diện của hải quân Mỹ trong vùng biển quanh TQ.

Mỹ

Chính sách của Mỹ đối với bán đảo Triều Tiên bao gồm 2 mục tiêu chính là ngăn không cho BTT sở hữu vũ khí hạt nhân và ngăn không cho chiến tranh liên Triều lại xảy ra. Việc này không chỉ bao gồm việc ngăn miền Bắc tràn xuống miền Nam mà còn ngược lại. Hiện nay Mỹ đang phải căng sức cho cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố, nên điều cuối cùng mà một tổng thống Mỹ muốn là phải giúp đồng minh trong một cuộc chiến quy mô lớn tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.


Tóm lại, điều kỳ lạ là cả 4 bên đều có chung 1 mục tiêu, đó là giữ nguyên hiện trạng càng lâu càng tốt. Chỉ có cách thức mà mỗi bên sử dụng để đạt tới mục tiêu trên là khác nhau. Trong đó, HQ đang ở thế bất lợi nhất, không phải vì họ yếu nhất, mà vị họ có quá nhiều thứ để mất.

Mig-29 vs. F-16 trong chiến tranh lạnh

Phần đầu trong bài (phần trong "…") được trích từ một một đề tài nghiên cứu của một cựu phi công, người có 2000 giờ bay trong F-16, 500 giờ bay trên Mig-29, ngoài ra còn có F-15 và F-5E. Nội dung là so sánh các phiên bản của Mig-29 và F-16 thời kì chiến tranh lạnh.

"…Bản Mig-29 chính được sử dụng để so sánh là Mig-29A vì đây là phiên bản được dùng nhiều nhất. Bản Mig-29C mới hơn thật sự không phải là sự cải tiến của bản A vì nó chỉ chứa nhiều hơn 200kg nhiên liệu và trang bị thiết gị gây nhiễu tích hợp. Phiên bản F-16 được dùng là bản F-16C thuộc lô cải tiến 40, vốn ra đời trong thời gian Mig-29 được sản xuất với tốc độ cao nhất.

Khi được trang bị cho tác chiến không đối không, Mig-29A có khối lượng tối đa 17,325kg, bao gồm nhiêu liệu tối đa của bình nhiên liệu chính bên trong, 2 tên lửa tầm xa AA-10A (R-27), 4 tên lửa tầm gần AA-11 (R-73), 150 viên đạn 30mm, cùng 1 bình nhiên liệu phụ gắn ngoài 1500 lít. Mig-29 có 2 động cơ, mỗi cái cho 8370kg lực đẩy. Tổng cộng Mig-29 có tỷ số lực đẩy trên khối lượng lúc cất cánh là 0.97:1.

Tỷ số này trên F-16C là 0.92:1 với trang bị gồm 4 tên lửa tầm xa AIM-120 AMRAAM, 2 tên lửa tầm gần AIM-9M Sidewinder, 510 viên đạn 20mm, đầy bình nhiên liệu chính và 1 bình nhiên liệu phụ 1130 lít. Tổng khối lượng là 14,328kg. F-16C có 1 động cơ với sức đẩy 13,050kg.

Tốc độ

Cả 2 thiết kế đều có khả năng cơ động tốt. Mig-29 có tốc độ tối đa ở độ cao lớn cao hơn, với giới hạn ở Mach 2.3. Của F-16 là Mach 2.05. Sự khác biệt là do khác biệt trong thiết kế cửa hút gió. Mig-29 sử dụng cửa hút gió biến thiên còn F-16 dùng loại cố định. (Chú thích: với tất cả các chiến đấu cơ phản lực, cho dù bay ở vận tốc siêu âm hay hạ âm, phải bảo đảm rằng vận tốc dòng khí trước khi đi vào động cơ phải dưới vận tốc âm thanh nếu không động cơ sẽ không thể vận hành tối ưu. Do đó, cửa hút gió phải được thiết kế để khi máy bay ở vận tốc siêu âm sẽ tạo ra một sóng chấn động và ngăn không cho dòng khí sau khi đi qua cửa hút gió có vận tốc siêu âm. Cửa hút gió biến thiên cho phép kiểm soát sóng chấn động này tốt hơn do đó cho phép giới hạn vận tốc cao hơn, tuy vậy nó phức tạp, tốn kém và nặng hơn so với cửa hút gió cố định).

Ở độ cao thấp, giới hạn tốc độ của cả 2 là khoảng 1,500km/h, nếu không có bình nhiên liệu gắn ngoài. Nếu có thì giới hạn là 1100km/h hoặc Mach 1.6 cho F-16 và Mach 1.5 cho Mig-29, tùy cái nào nhỏ hơn (vận tốc âm thanh không phải một đại lượng cố định). Thường giới hạn này không phải do động cơ mà là do các yếu tố khác, vì F-16 từng được thử nghiệm bay ở độ cao thấp với vận tốc trên 1700km/h. Một trong những lí do quan trọng là sự quá nhiệt của nắp buồng lái do ma sát với không khí, ở độ cao thấp, mật độ không khí cao do đó ma sát sẽ sinh ra nhiều nhiệt hơn.

Khả năng vận động

F-16 là máy bay đầu tiên được thiết kế với giới hạn gia tốc 9G. Mig-29 cũng có giới hạn tương tự. Nếu đeo thêm bình nhiên liệu phụ, giới hạn của F-16 là 7G, của Mig-29 là 4G. Tuy nhiên, nếu vận tốc vượt quá mức Mach 0.85, giới hạn gia tốc của Mig-29 là 7G, còn F-16 vẫn có thể duy trì 9G ở bất kì tốc độ nào. Hạn chế của Mig-29 ở tốc độ cao chủ yếu nằm ở cánh đuôi đứng. Không quân Đức, vốn sử dụng Mig-29 một cách khắc nghiệt hơn bất kì không quân nào khác, nhận thấy sự xuất hiện của các vết nứt tại đế của cánh đuôi đứng.

Khả năng điều khiển

Trong số 4 máy bay mà tác giả từng sử dụng, Mig-29 có khả năng điều khiển kém nhất. Trong khi F-16 là máy bay đầu tiên sử dụng hệ thống điều khiển điện tử ('bay bằng dây') thì Mig-29 vẫn sử dụng các cơ chế điều khiển cơ học. Mig-29 sử dụng một bộ trợ lực lái nhằm giúp điều khiển nhẹ nhàng hơn, nhưng cũng đồng thời khiến máy bay phản ứng chậm với lệnh từ phi công. Theo kinh nghiệm của tác giả thì nếu tắt cơ chế trợ lực đi sẽ giúp việc điều khiển nhạy hơn, nhưng điều này chỉ được phép khi bay biểu diễn vì nếu tắt nó đi thì cũng đồng thời tắt luôn bộ giới hạn góc tấn. Cần điều khiển nhẹ nhưng phải được di chuyển nhiều mới đạt được hiệu quả mong muốn. Khi đang bay, nếu không chú ý, cần điều khiển sẽ tự di chuyển tùy ý khoảng gần 4 cm theo bất kì hướng nào, và gây ra sự thay đổi tương ứng của máy bay. Tương tự, nếu phi công bỏ tay khỏi cần ga động cơ, nó cũng thường di chuyển ngược về vị trí nghỉ. Điều khiển Mig-29A khá dễ trong đa số các giai đoạn của một nhiệm vụ như cất cánh, tăng độ cao, bay hành trình và hạ cánh. Tuy nhiên người phi công phải cố gắng khá nhiều để điều khiển máy bay theo ý mình trong những tình huống vận động khó, khi bay theo đội hình hoặc khi sử dụng súng để giao chiến. Nói chung, người phi công có thể thực hiện tốt các yêu cầu vận động với Mig-29, nhưng với điều kiện phải giữ sự tập trung cao độ trong suốt thời gian bay.

Hệ thống điều khiển kỹ thuật số tứ trùng của F-16 cho phép điều khiển nó một cách chính xác, đáp ứng nhanh. Và quan trọng hơn là giảm tải rất nhiều cho phi công, cho phép anh ta tập trung vào các tác vụ chiến thuật khác thay vì phải lo điều khiển máy bay.
(Chú thích thêm: do loại bỏ được các cơ chế điều khiển cơ khí mà thay vào đó truyền lệnh điều khiển bằng tìn hiệu điện, F-16 có thể sử dụng buồng lái bất đối xứng. Nghĩa là di chuyển cần điều khiển từ giữa 2 chân của phi công sang hẳn 1 phía, thay bằng loại cần điều khiển nhỏ. Cho phép điều khiển chỉ bằng cách di chuyển cổ tay thay vì cả cánh tay, và nhờ đó tăng độ chính xác và giảm tải cho phi công. Đồng thời do vị trí này tự nhiên và ít gò bó hơn, nó cho phép phi công thao tác chính xác hơn ở điều kiện gia tốc cao.)

Mig-29 không có hệ thống tự cân bằng như F-16. Bất cứ sự thay đổi nhỏ nào, như nâng và hạ bánh đáp, đều có thể gây ra những sự thay đổi góc nâng của Mig-29.

Mig-29 có cơ chế giới hạn góc tấn ở 26 độ (góc tấn là góc giữa trục dọc của máy bay, trục từ mũi đến đuôi máy bay, và hướng di chuyển của máy bay). Khi máy bay đạt giới hạn này, một piston ở đế của cần điều khiển sẽ đẩy cần lái về phía trước để giảm góc tấn xuống khoảng 5 độ. Piston này áp một lực tương đương 17kg, do đó nếu muốn duy trì góc tấn mở mức giới hạn này hoặc vượt hơn, phi công cần kéo cần về phía sau với lực kéo lớn hơn 17kg. F-16 cũng có giới hạn góc tấn 26 độ, và hệ thống điều khiển điện tử cho phép nó tự động giới hạn máy bay ở mức này cho dù phi công có tác động như thế nào vào cần điều khiền. Nếu muốn đạt góc tấn cao hơn, phi công phải vượt quyền máy tính, tuy nhiên như vậy sẽ khá nguy hiểm vì F-16 có thiết kế phi ổn định theo trục dọc. Góc tấn giới hạn khi lực nâng mất tác dụng là 35 độ cho cả 2 máy bay.

Tác chiến

Nếu F-16C và Mig-29A đối mặt nhau trong một trận không chiến, cả 2 có thể phát hiện lẫn nhau ở khoảng cách gần như tương đương. F-16C, được trang bị AMRAAM, sẽ có cơ hội khai hỏa trước ở khoảng cách gấp đôi so với Mig-29. Một chiếc F-16 có thể phân biệt từng chiếc Mig-29 trong một nhóm nhiều chiếc và nhắm bắn nhiều chiếc cùng lúc. Radar trên Mig-29A không cho phép phân biệt nhiều mục tiêu cùng lúc. Nếu có nhiều hơn 1 chiếc F-16, phi công của Mig-29 sẽ không biết radar của mình đang 'khóa' (dẫn bắn) mục tiêu nào và chỉ có thể tấn công một mục tiêu cùng lúc. AMRAAM là tên lửa trang bị đầu dẫn radar chủ động. Phi công F-16 có thể phóng đi nhiều AMRAAM tấn công các mục tiêu khác nhau, cập nhật tọa độ mục tiêu cho các tên lửa trước khi chúng đến đủ gần để radar gắn trên tên lửa có thể dẫn tự động. Phi công F-16 có thể lựa chọn giữa quay đầu thoát khỏi vòng giao chiến hoặc tiếp tục áp sát. Ngược lại, AA-10A là tên lửa bán chủ động, nghĩa là radar của nó không có bộ phát mà chỉ nhận tín hiệu radar từ máy bay mẹ phản xạ lại từ mục tiêu. Do đó, phi công của Mig-29 phải liên tục dẫn bắn cho tên lửa cho tới khi nó tìm đến mục tiêu, nghĩa là phi công của Mig-29A chỉ có 1 lựa chọn duy nhất là tiếp tục lao về phía đối phương. Trong thực tế, một khi Mig-29A đến đủ gần để có thể phóng AA-10A thì nó chỉ còn cách AMRAAM vài giây.

Trong trường hợp cả 2 đều tránh được tên lửa tầm xa và không bên nào rút lui thì sẽ phải cận chiến. Mig-29A trong trường hợp này có một điểm yếu lớn là động cơ tỏa rất nhiều khói. Vệt khói mà nó tạo ra khiến cho phi công đối phương dễ dành định vị hơn. Ngoài ra, buồng lái của F-16 (cũng như của máy bay cùng thế hệ F-15) được thiết kế từ những kinh nghiệm từ chiến tranh Việt Nam, với mục đích cho phi công một góc nhìn rộng nhất có thể. Buồng lái được đặt lên cao, nắp buồng lái trong suốt phủ chụp toàn bộ xung quanh buồng lái cho phi công một góc nhìn toàn cảnh xung quanh máy bay. F-16 cũng có kích thước nhỏ, đặc biệt nếu nhìn trực diện từ phía trước (vì nó chỉ có 1 động cơ, 1 cửa hút gió) và động cơ không khói. Ngược lại, buồng lái của Mig-29A được đặt sâu bên trong, góc nhìn giữa hướng 4h và 7h hầu như không tồn tại.

Tốc độ xoay vòng ban đầu của 2 máy bay là gần như tương đương. Mig-29A có tốc độ tiêu hao năng lượng khi xoay vòng nhanh hơn do thiết kế có sức cản trong điều kiện gia tốc cao lớn hơn F-16. Do đó, F-16 có thể duy trì tình trạng vận động với gia tốc lớn trong thời gian dài hơn.

Tốc độ lật cánh tối đa của Mig-29A là 160 độ/giây, ở vận tốc thấp tốc độ này giảm còn 20 độ/giây, thông số này ở F-16 là khoảng 80 độ/ giây.

Công chúng biết đến Mig-29A nhiều thông qua bài vận động trên không "Rắn hổ mang", một trong những ngôi sao của các buổi trình diễn hàng không. Nhà sản xuất MAPO-MIG khẳng định rằng 'Rắn hổ mang' cho phép Mig-29 tránh bị phi cơ đối phương dẫn bắn vì tốc độ chậm của động tác này triệt tiêu hiệu ứng Doppler và do đó radar của đối phương không thể theo dấu Mig-29A được, ngoài ra nó cũng có thể được dùng để hướng mũi máy bay về phía đối phương nhanh và dễ dàng hơn. Phản ứng của các phi công phương Tây trước những tuyên bố đó thường là giữ im lặng và hy vọng rằng trong thực tế chiến đấu Mig-29A sẽ sử dụng "Rắn hổ mang" và chịu mất toàn bộ vận tốc của mình. Trong thực tế chính các phi công Mig-29A cũng thừa nhận rằng bài vận động này bị cấm tại các đơn vị thông thường và chỉ được thực hiện như một bài biểu diễn bởi những máy bay đặc biệt cùng các phi công lão luyện nhất.

Ưu điểm của Mig-29A là ở chỗ nó cho phép phi công vượt quyền bộ giới hạn góc tấn. Điều này đặc biệt hữu ích trong các tình huống vận động thẳng đứng hoặc như là giải pháp cuối cùng để tránh tên lửa của đối phương. Tuy nhiên, điểm mạnh nhất của nó có lẽ nằm ở sự kết hợp giữa tên lửa tầm gần AA-11 và nón bay tích hợp kính chuẩn trực (HMS). AA-11 hoàn toàn vượt trội so với tên lửa cùng loại khi đó của NATO là AIM-9M. Bên cạnh đó, nhờ vào nón bay tích hợp kính chuẩn trực, phi công của Mig-29A có thể chỉ thị mục tiêu cho AA-11 chỉ bằng cách xoay đầu. Tuy nhiên, phi công sẽ không biết được cảm biến nhiệt của AA-11 khi đó đang thực sự hướng vào đâu (mục tiêu, pháo mồi hay một điểm phát nhiệt nào đó).

Mig-29A giành lợi thế tối đa trong những tình huống huấn luyện giả định một chọi một tầm gần. Khi đó 2 máy bay chỉ bắt đầu giao chiến khi nằm trong tầm quan sát của nhau. Không phải vì Mig-29A có khả năng vận động linh hoạt hơn mà là do sự kết hợp giữa AA-11 và HMS. Tác giả từng bay trên F-16 chống lại Mig-29A (của không quân Đức)  trong thao diễn và nhận thấy F-16 luôn tỏ ra cơ động và mạnh mẽ hơn Mig-29A.

Súng của Mig-29A là loại 30mm, của F-16 là 20mm. Loại của Mig-29A có sức công phá tốt hơn nhưng bù lại tầm bắn hiệu quả không bằng của F-16 vì sơ tốc đầu nòng là tương đương trong khi đạn 20mm của F-16 có tính chất khí động học tốt hơn. Cơ chế ngắm bắn trên Mig-29A không thật sự chính xác đối với những mục tiêu có khả năng cơ động cao.

Một trong những hạn chế lớn nhất của Mig-29A là tầm hoạt động ngắn. Do đó nêu giao chiến kéo dài, Mig-29A sẽ ở thế bất lợi. Mig-29A có tới 2 động cơ so với 1 của F-16 nhưng chứa nhiều hơn 150kg nhiên liệu (không tính thùng nhiên liệu phụ gắn ngoài), ở chế độ đốt hậu tối đa, tốc độ tiêu thụ nhiên liệu của Mig-29A gấp 3.5 - 4 lần của F-16. Chuyến bay ngắn nhất của tác giả trên Mig-29A chỉ có 16 phút, từ lúc thả phanh cho đến khi chạm đất.

Một điếu quan trọng cần ghi nhớ là không chiến không tự nhiên xuất hiện. So sánh một-chọi-một là một chuyện, nhưng khi xét đến toàn bối cảnh mà một trận không chiến xuất hiện và diễn ra thì khả năng nắm bắt và nhận định tình hình trở nên cực kỳ quan trọng. Hiệu năng thấp của radar cùng với thiết kế không tốt của buồng lái làm hạn chế nhiều khả năng này của phi công Mig-29A, đặc biệt là khi phải đối đầu với nhiều máy bay.

Trong các tình huống diễn tập gồm nhiều máy bay tham gia cùng lúc, thông thường là 4-chọi-4, ưu thế nghiêng hoàn toàn về phía có khả năng nhận định tình hình tốt hơn. Đối đầu với F-15 và F-16 trong các tình huống như trên, Mig-29A luôn bị thất thế. Nó gần như không thể tận dụng được sức mạnh của bộ đôi HMS/AA-11 do phi công không thể cùng lúc đối phó được nhiều đối phương.

Nguyên nhân trực tiếp là từ quan điểm về tác chiến không quân chiến thuật  và trình độ công nghệ sẵn có của Liên Xô khi đó. Trọng tâm ở đài điều khiển mặt đất thay vì ở phi công, do đó phi công không (cần) được cung cấp nhiều thông tin. Nhiệm vụ của phi công chủ yếu là tuân theo chỉ thị từ mặt đất chứ không phải ra quyết định độc lập. Nếu bị cô lập khỏi điều khiển mặt đất, khả năng tác chiến độc lập của phi công trên Mig-29 là rất hạn chế. Chuẩn đường truyền dữ liệu trên Mig-29A không nhằm để chia sẻ thông tin giữa các máy bay với nhau mà chỉ để đài chỉ huy mặt đất dẫn phi cơ đến vị trí cần đến. Ngược lại, phi công của không quân các nước phương Tây được cung cấp mọi phương tiện cần thiết để có thể độc lập ra quyết định. Người chỉ huy của chiến dịch cũng thường là phi công trực tiếp tham chiến thay vì ở trên mặt đất. Các phương tiện khác đóng vai trò hỗ trợ thay vì ra chỉ thị. Nếu một phi công F-16 mất liên lạc với một trong các phương tiện trên, ví dụ như máy bay AWACS E-3, anh ta vẫn có nhiều khả năng để hoàn thành nhiệm vụ một cách độc lập.

Thành tích trong thực tế tác chiến của Mig-29A cũng không mấy ấn tượng. 'Chiến công' duy nhất xảy ra khi một Mig-29 của không quân Iraq bắn rơi chính đồng đội của mình vào đêm đầu tiên của chiến tranh Vùng Vịnh và một Mig-29 của Cuba bắn rơi 2 máy bay thể thao hạng nhẹ Cessna.

Trung tá Johane Koeck, tư lệnh Phi đoàn Mig-29 của nước Đức thống nhất từ 9/1995 đến 9/1997 rất thẳng thắn khi đề cập đến Mig-29 'Tầm hoạt động quá ngắn, hệ thống định vị kém tin cậy và radar thường xuyên gặp trục trặc…", ông còn nói thêm rằng nhiệm vụ thích hợp nhất của Mig-29 tại những nước NATO là tham gia những buổi diễn tập trong vai trò máy bay đối địch ('quân xanh') hơn là trong lực lượng tác chiến thường trực..."

Phân tích

Hiển nhiên là bài viết trên có phần thiên vị do được viết bởi một người Mỹ, tuy vậy cũng không thể phủ nhận sự hiểu biết và trải nghiệm thực tế phong phú của tác giả. Có thể nói Mig-29 là một trường hợp khá đặc biệt khi một hệ thống vũ khí hiện đại của Nga (LX) có thể được tiếp cận, nghiên cứu kỹ càng và so sánh với các hệ thống tương tự của phương Tây. Được ra đời như là đối trọng với thế hệ chiến đấu cơ thứ 4 của Mỹ (F-16, F-18, F-15, F-14…), Mig-29 chính thức tham gia biên chế không quân LX từ 1983. Trong thời gian đầu sau khi được đưa vào hoạt động, nó nhận được nhiều sự nể sợ từ phương Tây, với nhiều 'huyền thoại' được thêu dệt về sự ưu việt và vượt trội của nó. Tuy nhiên, sự kiện nước Đức thống nhất  đã tạo điều kiện để giới quân sự phương Tây có thể tìm hiểu, tiếp cận trực tiếp Mig-29 do nước Đức thống nhất tiếp quản toàn bộ lực lượng không quân Đông Đức cũ. Tiếp đó là sự sụp đổ của LX và kéo theo đó là sự tan rã của khối Warsaw. Những cựu thành viên của khối này, những nước Đông Âu cũ, trở thành những đồng minh của phương Tây và thành viên mới của NATO. Đây cũng là những nước có sử dụng Mig-29 một cách rộng rãi. Do đó người ta càng có điều kiện để so sánh giữa Mig-29 và các chiến đấu cơ của khối NATO. Những năm ngay sau Chiến tranh lạnh kết thúc, không quân Mỹ thực hiện rất nhiều chương trình huấn luyện, tập trận chung với các không quân đồng minh có sử dụng Mig-29, đặc biệt là không quân Đức, vốn thừa hưởng Mig-29 từ không quân Đông Đức cũ.

Bài viết này sẽ làm rõ hơn những phân tích về Mig-29. Như tựa bài viết đã chỉ rõ, nội dung giới hạn trong thời gian trước và ngay sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, đồng thời dự đoán, với một chừng mực nào đó, điều gì đã có thể xảy ra nếu xảy ra chiến tranh giữa 2 khối NATO-Warsaw và Mig-29 được xung trận với các chiến đấu cơ của phương Tây. Ngoài ra, nó cũng cho thấy, một cách sơ lược, những sự khác nhau về học thuyết, triết lí quân sự, cũng như trình độ công nghệ, sản xuất của LX và phương Tây.

Một điều quan trọng cần ghi nhớ đó là không có sự tương ứng một cách tuyệt đối giữa các hệ thống vũ khí của các quốc gia khác nhau. Mỗi quân đội có cách thức tác chiến, triết lý quân sự, chiến thuật…không giống nhau, và do đó cách họ sử dụng vũ khí cũng khác nhau. Và từ đó dẫn đến những khác biệt về các ưu tiên trong thiết kế. Vì vậy không thể chỉ so sánh các loại vũ khí khác nhau về mặt kỹ thuật mà bỏ qua việc xem xét các yêu cầu tác chiến của chúng.

Mig-29A được thiết kế như một chiến đấu cơ để giành và duy trì quyền kiểm soát bầu trời trong mọi điều kiện thời tiết bằng cách tấn công và tiêu diệt các loại chiến đấu cơ của đối phương, và bảo vệ các máy bay cường kích khi chúng tấn công các mục tiêu mặt đất của đối phương. Nó sẽ xuất kích từ những sân bay dã chiến nhỏ, ở sát tiền tuyến. Bên cạnh đó, nó cũng sẽ đóng vai trò hỗ trợ hỏa lực cho các đơn vị mặt đất sau khi ưu thế trên không đã đạt được. Những nhiệm vụ này cũng không khác lắm so với các nhiệm vụ của Mig-21 hay Mig-23 trước kia. Thiết kế của Mig-29A được quyết định dựa trên các yêu cầu chính sau (tầm quan trọng theo thứ tự giảm dần): khả năng vận động cao, sức tải vũ khí (bao gồm cả không đối không và không đối đất), độ tin cậy và khả năng bảo trì.

Những yêu cầu trên dẫn tới những đặc điểm thiết kế nổi bật của Mig-29A. Tiêu biểu là thiết kế phần thân máy bay cung cấp đến 40% của toàn bộ lực nâng, nhờ vào phần diện tích rìa cánh mở rộng có kích thước lớn, đây là phần tiếp giáp giữa thân và cánh máy bay. Do đó khi nhìn vào Mig-29, đặc biệt từ góc nhìn trực diện, ta có thể thấy sự chuyển tiếp đều đặn và trơn tru từ phần thân sang phần cánh, thay vì sự khác biệt rõ ràng giữa 2 bộ phận này như ở các thiết kế trước. Thông thường thì cánh máy bay là bộ phận tạo ra phần lớn lực nâng, phần thân máy bay cũng tạo ra lực nâng, nhưng không lớn lắm. Một đặc điểm đáng chú ý nữa là cửa hút gió (của động cơ phản lực) đặt nằm dưới thân máy bay, nhờ đó luồng khí đi vào không bị cản trở ở góc tấn lớn. Ngoài ra, 2 động cơ được đặt trong 2 khoang động cơ nằm cách xa nhau và tách biệt hẳn khỏi thân máy bay. Do đó toàn bộ bề mặt động cơ được đối diện với của hút gió, luồng khí có thể đi thẳng từ của hút gió vào động cơ mà không bị gì cản trở. Đây cũng là một trong những đặc tính giúp Mig-29A có thể vận hành tốt ở góc tấn lớn, nơi mà động cơ củanhững máy bay khác có thể không thể hoạt động được.

Cửa hút gió sẽ tự động đóng lại khi máy bay đang cất cánh hay hạ cánh để ngăn đất đá hoặc các vật thể khác bị hút vào và làm hỏng động cơ, tính năng này phản ánh yêu cầu đặt ra cho Mig-29A là có thể hoạt động từ những đường băng dã chiến ở sát tiền phương. Không khí cung cấp cho động cơ khi đó sẽ được lấy từ các cửa sập mở ra ở mặt trên các các phần diện tích rìa cánh mở rộng.

Các đặc điểm bên ngoài của Mig-29 dẫn đến nhiều cáo buộc rằng nó là một phiên bản copy từ các thiết kế trước đó của phương Tây. Ví dụ như sự có mặt của phần diện tích rìa cánh mở rộng giống như trên F-18 và F16. Phần thân tạo lực nâng lớn, 2 khoang động cơ được đặt cách xa nhau và 'treo' bên dưới thân máy bay giống thiết kế của F-14. Hình dạng của cánh máy bay gần giống của F-15. Có thể đây chỉ đơn giản là một trường hợp khi mà những yêu cầu giống nhau dẫn đến những thiết kế giống nhau. Tuy vậy có một điều chắc chắn là Mig-29 được ra đời sau các mẫu máy bay thế hệ thứ 4 tương ứng của Mỹ gần một thập niên và do đó chắc chắn các kỹ sư thiết kế của nó, cho dù vô tình hay cố ý, chịu ảnh hưởng lớn từ những thiết kế trước đó và cũng như có được những bài học quý giá từ đó, và không có lí do gì lại không áp dụng chúng vào thiết kế của mình.

Như trong bản báo cáo ở phần đầu của bài đã chỉ rõ, so với không quân các nước phương Tây, chiến thuật của không quân LX khá cứng nhắc đối với phi công, những người phải chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ đài điều khiển. Tuy vậy, không quân LX cũng dần ý thức được sự cần thiết để cho phép các phi công của mình có nhiều quyền tự quyết hơn. Trên thực tế thì thiết kế của Mig-29 đánh dấu một bước chuyển lớn trong triết lí của không quân LX, khi mà quyền chủ động của phi công được nhấn mạnh hơn. Tuy nhiên đó chỉ là nếu so với chính các thế hệ Mig trước đó, còn so với các máy bay phương Tây thì vẫn còn một khoảng cách khá xa. Ngay chính các phi công LX cũng tự trào phúng về sự cứng nhắc này. VD như câu chuyện sau "Một phi công Mỹ vừa leo vào buồng lái chuẩn bị xuất kích bỗng nhảy dựng lên vì có ai đó đã để một cái đinh ghim trên ghế phi công. Viên phi công chửi thề rồi ném cái đinh ra ngoài. Việc tương tự xảy ra với 1 phi công Do Thái, người này bỏ cái đinh vào túi và nghĩ "có thể nó sẽ có ích sau này". Còn với phi công LX, sau khi gỡ cái đinh ra và chuẩn bị vứt đi, anh ta nghĩ "…nhưng lỡ như cái đinh được đặt ở đó là có lí do nào đó thì sao?", vì vậy để cho chắc chắn, anh ta ngồi lại lên cái đinh".

Tất cả các phiên bản của Mig-29 được trang bị cảm biến hồng ngoại ở phía trước kính buồng lái và bộ đo khoảng cách bằng laser ở phía dưới mũi máy bay, kết hợp với chỉ dẫn từ đài điều khiển mặt đất, chúng cho phép Mig-29A sử dụng cách tiếp cận 'yên lặng' (vì không sử dụng radar nên bộ cảnh báo radar của đối phương sẽ không có tác dụng).

Khi nhìn vào trong buồng lái, cảm giác đầu tiên là sự thất vọng. Nó rất nhỏ và phi công gần như không có không gian trống nào để cử động. Cách sắp xếp các thiết bị cũng khá rắc rối và thiếu trực quan. Phi công ngồi rất sâu và thấp phía trong buồng lái do đó góc quan sát bị che khuất nhiều. Góc nhìn phía nửa sau chỉ có thể đạt được nhờ vào gương chiếu hậu đặt trên khung kính buồng lái. Khi nhìn từ bên ngoài vào thường chỉ có thể thấy phần đầu và phần vai trên của phi công Mig-29. Ngược lại phi công F-16 ngồi ở vị trí rất cao, gần như có thể thấy từ khuỷu tay trở lên. Do đó phi công F-16 có tầm bao quát rất tốt.

Sự tương tác giữa phi công và thiết bị cũng là 1 điểm khác biệt lớn trong thiết kế của F-16 và Mig-29. Trong buồng lái F-16 mọi thiết bị được sắp xếp theo một trình tự hợp lý sao cho phi công chỉ cần đảo mắt 1 lần, từ trái qua phải, trên xuống dưới khi thực hiện việc kiểm tra các thông số kỹ thuật cần thiết. Ngoài ra, mọi thông số cần thiết cũng được hiển thị trên kính chuẩn trực bay gắn ngay trước mặt phi công, do đó phi công không cần phải cúi xuống nhìn bảng điều khiển thường xuyên.

Các thiết bị hiển thị trong buồng lái Mig-29 được đặt khá lộn xộn nên phi công phải di chuyển mắt khá nhiều theo đường zig-zag khi muốn kiểm tra các thông số. Các thông tin hiển thị trên kính chuẩn trực của Mig-29 cũng khá đơn sơ, nó không thể hiện độ cao và khoảng cách của mục tiêu mà máy bay đang ngắm bắn.

Một đặc điểm nổi bật trong thiết kế buồng lái của F-16 là tính năng điều khiển rảnh tay, nghĩa là các nút điều khiển cần thiết cho tác chiến đều được gắn trên cần điều khiển bay và cần chỉnh công suất. Phi công không cần rời tay khỏi 2 cần này mà vẫn có thể chọn, kích hoạt và phóng vũ khí, điều chỉnh chế độ radar…Với Mig-29, với các thao tác trên, phi công sẽ phải rời tay khỏi cần điều khiển, nhìn xuống bảng điều khiển để chỉnh các công tắc khác nhau.

Những khác biệt một lần nữa cho thấy sự khác biệt cơ bản về triết lý tác chiến giữa không quân phương Tây và không quân LX, trong đó phương Tây nhấn mạnh tầm quan trọng của người phi công và luôn đảm bảo rằng người phi công luôn được ưu tiên ở mức cao nhất trong thiết kế của các máy bay.  

Mig-29 sử dụng radar N-019, nó có hiệu năng thấp hơn so với những hệ thống tương tự của phương Tây như APG-65 của F-18 và APG-70 của F-15. N-019 có thể theo dõi cùng lúc 10 mục tiêu, tuy nhiên phi công phải điều chỉnh bằng tay trước  vùng quét của radar. Nếu máy bay đối phương không tiếp cận ở khu vực mà phi công đã chọn thì radar không thể theo dõi được. Nó cũng không có tính năng vừa dẫn bắn vừa quét, nghĩa là một khi máy bay khóa 1 mục tiêu thì tất cả các mục tiêu khác sẽ biến mất khỏi màn hình radar.  Hệ thống áp chế điện tử SROZ của Mig-29 tương đối đơn giản và không tương xứng với các tình huống không chiến hiện đại, vì nó chỉ cho biết một cách tương đối hướng tiếp cận của đối phương khi nó bị ngắm bắn từ phía trước. Nếu đối phương đến từ phía sau, SROZ không có tác dụng. Ngoài ra nó cũng không cung cấp thông tin về khoảng cách của đối phương. Thiết bị đáng chú ý nhất trong buồng lái Mig-29 là nón bay tích hợp kính chuẩn trực, cho phép phi công ngắm bắn và phóng tên lửa tầm nhiệt tầm gần AA-11 (R-73) chỉ bằng cách xoay đầu, cộng với cảm biến góc rộng trên tên lửa cho phép phi công Mig-29 đạt được góc bắn rất rộng: theo mặt phẳng nằm ngang là 60 độ về 2 phía của mũi máy bay (theo hướng nhìn thẳng), theo mặt phẳng thẳng đứng là 60 độ (nhìn lên) và 15 độ (nhìn xuống), một lợi thế cực lớn trong cận chiến. Hệ thống này được kết nối trực tiếp với cảm biến tên lửa, do đó tên lửa có thể tự động bắt mục tiêu nào mà phi công đang nhìn thấy.Cơ chế hoạt động của thiết bị này như sau: 2 lăng kính trong buồng lái phát ra 2 tia laser chiếu vào 2 cảm biến gắn trên nón bay, khi phi công di chuyển đầu của mình, máy tính sẽ ghi nhận lại những thay đổi của tia laser và điều chỉnh radar hoặc cảm biến trên tên lửa một cách thích hợp. (Các hệ thống tương tự hiện nay tạo ra một vùng từ trường bên trong buồng lái và cảm nhận sự thay đổi của vùng từ trường đó khi vị trí của nón bay di chuyển.)

Do đó, các phi công Nato trong những lần đầu tiên tham gia thao diễn với Mig-29 đều rất bất ngờ khi thường xuyên bị ngắm bắn trong những tình huống không ngờ. Thông thường, phi công chỉ có thể ngắm bắn các mục tiêu ở ngay trước mũi máy bay mình. Vì vậy trong cận chiến các phi công nhìn hướng mũi máy bay đối phương để phán đoán khả năng mình bị nhắm bắn. Tuy nhiên phi công Mig-29 hướng máy bay theo 1 hướng và nhắm bắn một mục tiêu ở hướng hoàn toàn khác, khiến cho đối phương thường không kịp phòng bị trước.

Một át chủ bài nữa của Mig-29A, đặc biệt trong cận chiến, là hệ thống cảm biến hồng ngoại KOLS 29 gắn ngay phía trước buồng lái. Nó đóng vai trò như một loại 'radar' thụ động, cho phép phát hiện và theo dõi mục tiêu nhờ vào nguồn nhiệt tỏa ra từ mục tiêu đó. Hệ thống này cũng được kết nối vào đầu dò nhiệt trên tên lửa. Trong thực tế, khi cận chiến, phi công Mig-29 sẽ nhấn giữ nút điều khiển phóng tên lửa. Do đó ngay khi KOLS hay phi công bắt được mục tiêu, tên lửa sẽ lập tức tự động được phóng đi. R-73 có thể xem như là loại tốt nhất trong số các tên lửa tầm nhiệt tầm gần giai đoạn đó. Cực kỳ nhanh, linh hoạt, với phần mềm tiên tiến cho phép phân biệt tín hiệu nhiệt thực của máy bay và của pháo sáng. Rất khó có thể chạy thoát khỏi nó.

Trong các tình huống khẩn cấp, hệ thống cảnh báo AEKRAN sẽ hiển thị danh sách kiểm tra, kích hoạt các đèn báo lỗi. Hệ thống này sử dụng cơ chế báo lỗi bằng giọng nói (một giọng nữ, thường được gọi là Natasha) thông báo cho phi công biết vấn đề nằm ở đâu và cách thức xử trí. Hệ thống truyền dữ liệu LASUR được thiết kế để cho phép đài điều khiển mặt đất chuyển thông tin và lệnh điều khiển vào máy bay mà không cần kích hoạt liên lạc bằng vô tuyến. Cộng với việc sử dụng cảm biến hồng ngoại (là loại cảm biến thụ động), LASUR cho phép Mig-29 sử dụng chiến thuật áp sát đối phương một cách bí mật do không phát ra nguồn radar hay radio liên lạc.

Động cơ của Mig-29 (RD-33) là một thiết kế gọn nhẹ, nhưng cung cấp sức đẩy cao. Ưu điểm lớn nhất của nó là sự ổn định, có thể vận hành bình thường dưới những điều kiện dòng khí vào bị xáo trộn mạnh, hoặc những yêu cầu thay đổi đột ngột của phi công. Ví dụ nó có thể thực hiện động tác rơi tự do bằng đuôi. Theo đó, máy bay sẽ bay thẳng lên trên theo phương vuông góc với mặt đất, cho tới khi vận tốc giảm còn bằng 0, và máy bay bắt đầu rơi tự do, đuôi đi trước, cho tới khi mũi máy bay hạ xuống và máy bay nằm ngang trở lại và tiếp tục bay bình thường. Một số máy bay của phương Tây, ví dụ như F-15, có thể thực hiện động tác này. Một số khác, như F-16, nếu thực hiện động tác tương tự sẽ khiến động cơ ngừng hoạt động. Điểm yếu của loại động cơ này là tỏa nhiều khói, và tuổi thọ ngắn. Trong thực tế, nhiều khách hàng của Mig-29 đã quyết định chỉnh lại động cơ, chấp nhận mất khoảng 10% lực đẩy để tăng thời gian hoạt động lên (nghĩa là 'độ xuống' thay vì 'độ lên').  Do có tầm hoạt động quá ngắn, thường Mig-29A sẽ bay với thùng xăng phụ trung tâm, gắn ở khoảng trống giữa 2 khoang động cơ. Tuy nhiên, khi đó máy bay lại không thể dùng súng của mình. Trong thiết kế ban đầu của Mig-29 cũng không bao gồm khả năng tiếp nhiên liệu trên không.

Giả sử máy bay không sử dụng thùng nhiên liệu phụ, sức chứa tiêu chuẩn của nó trong các bình xăng chính là 4400 kg. Trong đó, chỉ riêng việc khởi động động cơ, di chuyển ra đường băng, và cất cánh đã tốn 400 kg. Thường phi công sẽ phải để dành ra 1000 kg phòng trường hợp máy bay gặp trục trặc và phải đáp xuống một sân bay gần đó. Ngoài ra còn phải chừa ra khoảng 500 kg dùng trong trường hợp có giao chiến, bao gồm khoảng 1 phút sử dụng đốt hậu. Như vậy còn lại 2500 kg. Giả sử Mig-29 được giao nhiệm vụ bay tuần tra tại một điểm cụ thể trong 15 phút, nó sẽ cần 1000 kg. Vậy là còn 1500 kg dùng cho việc di chuyển từ căn cứ ra vị trí tuần tra. Với mức này, nó chỉ có bán kính hoạt động từ 180 km đến 270 km.

Trong biên chế các nước thuộc khối Warsaw, Mig-29 hầu như chỉ được sử dụng trong vai trò phòng thủ, cảnh giới trên không, bỏ qua chức năng không đối đất. Trong tình huống chiến tranh, Mig-29 sẽ được đặt trong tình trạng sẵn sàng bên trong các nhà chứa  máy bay kiên cố dạng boongke, được thiết kế để chống lại được sóng xung kích của vụ nổ hạt nhân. Khi có máy bay đối phương xâm nhập khu vực phòng thủ, Mig-29 sẽ được khẩn trương xuất kích để chặn đánh máy bay xâm nhập. Hoặc nó cũng có thể được dùng để thực hiện các nhiệm vụ bay tuần tra, tuy nhiên khá hạn chế do tầm bay ngắn nên thời gian duy trì trên không rất ngắn.

Trong các nhiệm vụ này, Mig-29 nằm dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của đài kiểm soát mặt đất hoặc AWACS A-50. Phi công có rất ít quyền tự quyết. Sử dụng hệ thống LASUR, đài điều khiển sẽ hướng dẫn máy bay đến vị trí thích hợp để khai hỏa. Nói cách khác, các kiểm soát viên sẽ phụ trách chiến thuật còn phi công chỉ có nhiệm vụ điều khiển máy bay và thực thi các chỉ thị từ mặt đất. Phương thức tác chiến cứng nhắc này có nguồn gốc từ chiến thuật được sử dụng từ Thế chiến thứ 2. Hệ quả của nó là gây hạn chế việc phát triển các chiến thuật mới, hiệu quả hơn, và tiêu chuẩn thấp trong việc lựa chọn và đào tạo phi công.

Một ví dụ là với không quân Iraq (trước chiến tranh Vùng Vịnh 1991). Một số phi công của họ được cử sang Pháp học lái Mirage F1. Nhiều người trong số đó không đủ điều kiện hoàn thành khóa huấn luyện và bị trả về. Số này cộng với một số phi công loại hai lại được gửi đến Liên Xô để học lái Mig-29 và đều đạt yêu cầu.

Một ví dụ nữa là với không quân Đông Đức. Sau khi nước Đức thống nhất, không quân Tây Đức tiếp quản toàn bộ không quân Đông Đức cũ. Phần lớn phi công Mig-29 của Đông Đức đều không đủ điều kiện để tiếp tục phục vụ trong không quân Đức. Một số ít những phi công tốt nhất được phép ở lại với điều kiện phải trải qua lại khóa huấn luyện bay cơ bản tại Mỹ. Chỉ khoảng hơn 20 người hoàn thành được khóa học. Trong đó, một số trở về tiếp tục bay Mig-29 trong biên chế Không quân Đức (thống nhất). Một số phi công kinh nghiệm từng bay F-4F trong không quân Tây Đức cũng được chuyển qua bay Mig-29. Khi chất lượng phi công được nâng lên, cùng với việc áp dụng những chiến thuật linh hoạt và hiệu quả hơn, Mig-29 mới bắt đầu tận dụng được hết các điểm mạnh và hạn chế các điểm yếu của mình. Mig-29 của không quân Đức gây rất nhiều khó khăn cho các máy bay phương Tây khác trong những cuộc diễn tập chung bằng cách tránh bị tấn công ở tầm xa và tìm cách áp sát để cận chiến. Tất nhiên điều này cũng một phần do nhiều phi công Đức lái Mig-29 đã quá quen thuộc và hiểu rõ những đặc tích của AMRAAM, loại tên lửa chủ động dùng trong tấn công tầm xa của NATO. Có thể nói trong thời gian khoảng hơn một thập niên kể từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, những đơn vị Mig-29 thiện chiến nhất trên thế giới thuộc về không quân Đức. Những phi công Mig của Đức mỗi năm có thể có từ 150 - 200 giờ bay, trong khi nhiều đồng nghiệp Nga chỉ có thể vật lộn với vài chục giờ bay do khó khăn chung của nền quốc phòng Nga sau chiến tranh Lạnh.

Ngược lại, việc tập trận chung với Mig-29 cũng cung cấp cho các phi công NATO những kinh nghiệm thực tế khi giao chiến với loại máy bay này. Những sự chuẩn bị đó đã góp một phần vào việc không quân khối NATO bắn rơi 5 Mig-29 của Nam Tư trong chiến dịch Lực Lượng Đồng Minh, 1999.

Tên lửa dùng để tác chiến tẩm xa trên Mig-29, R-27 (còn gọi là AA-10) là loại dẫn bằng radar bán chủ động. Nghĩa là máy bay phải liên tục chiếu luồng radar vào mục tiêu để đầu dò trên tên lửa nhận được tín hiệu phản xạ lại. Do đó nó hoàn toàn thua kém so với loại tên lửa loại của NATO là AMRAAM AIM-120, chỉ tương đương với loại tên lửa thế hệ trước là Sparrow AIM-7, được sử dụng từ thời chiến tranh Việt Nam.

Tuy nhiên tên lửa không phải là nhân tố duy nhất làm hạn chế khả năng không chiến tầm xa của Mig-29, mà còn nằm ở lượng thông tin mà phi công nhận được. Mặc dù được trang bị một radar khá mạnh, nhưng khả năng xử lý thông tin của Mig-29 lại không đủ để tận dụng tất cả các dữ liệu từ radar. Do đó phi công Mig-29 không có được một bức tranh toàn cảnh về tình hình xung quanh như các phi công phương tây. Nguyên nhân này bắt nguồn từ sự thua kém của ngành khoa học máy tính nói chung của LX so với phương tây.

Khi một phi công phương tây, vd trên F-16, phóng đi 1 tên lửa tầm xa, toàn bộ thông tin cần thiết được hiển thị trên kính chuẩn trực trước mặt phi công. Nó hiển thị đường giới hạn của radar, cho phi công thấy anh ta có thể cơ động máy bay đến đâu mà radar vẫn còn bắt được mục tiêu. Nó còn hiển thị một đồng hồ đếm ngược tự động cho thấy còn bao lâu nữa thì tên lửa AMRAAM có thể chuyển sang chế độ tự dẫn, nghĩa là phi công thoát ra.

Còn trên Mig-29, phi công chỉ được trang bị một đồng hồ đếm ngược cơ học, chạy bằng lên dây cót. Phi công phải tự tính thời gian từ khi tên lửa phóng đi cho đến khi va chạm với mục tiêu, và đặt thời gian cho đồng hồ đếm ngược bằng tay. Và tất nhiên là phi công Mig-29 phải đợi cho đến khi tên lửa đánh trúng mục tiêu mới có thể thoát ra do tên lửa trang bị trên Mig-29 thời Chiến tranh lạnh là loại không có khả năng tự dẫn.


Nói chung, khi tác chiến tầm xa (ngoài tầm quan sát) Mig-29 thua kém so với hầu hết chiến đấu cơ của NATO. Khi tác chiến tầm gần, Mig-29 có lợi thế vượt trội so với các đối thủ của mình. Trong các cuộc tập trận giữa F-16 của không quân Mỹ và Mig-29 của không quân Đức, Mig-29 có thể đạt được tỷ lệ bắn trúng tới 18:1. Sự chênh lệch lớn đến mức trong những buổi báo cáo tổng kết sau diễn tập, các phi công Mỹ không chấp nhận kết quả này và bỏ ra ngoài phòng họp.

I'm back