17.4.09

Người Nga động binh


Nga vừa gửi một bức thư cho TTK Nato, Hoop Scheffer, đề nghị ngừng hay hủy những cuộc tập trận ở Gruzia. Tin này đến trong lúc Nga vừa thông báo cho chính quyền Ukraina về việc 22 chiến hạm của hạm đội biển Đen sẽ rời cảng Sevastopol co các hoạt động quân sự, trong đó toàn bộ số tàu đổ bộ sẽ rời đi trước tiên. Cùng với đó là những cuộc biểu tình phản đối tổng thống đương nhiệm Gruzia. Những điều này khiến nhiều người không khỏi nghi ngờ về ý định thực sự của Nga đối với Gruzia.

Lực lượng trên bộ của Nga cũng được tăng cường tại các khu vực ly khai Nam Ossetia và Abkhazia, bao gồm cả tăng, thiết giáp chở quân, pháo binh và pháo hỏa tiễn. Quy mô chính xác của lực lượng này khó có thể đánh giá chính xác, nhưng lực lượng trên biển thì không có gì là bí mật, vì Nga phải thông báo cho nhà chức trách Ukraina trước khi có thể ra khơi. Lực lượng này còn lớn hơn hồi cuộc chiến Gruzia tháng 8 năm ngoái. Khi đó chỉ có 2 tàu đổ bộ, hiện giờ là 4. Hồi tháng 8, một tiểu đoàn bộ binh hải quân được đưa vào Abkhazia, rồi từ đó tiến đáng tây Gruzia.

Sau cuộc chiến, Gruzia đã giải thể hải quân của mình. Địa hình hiểm trở giữa giữa Nga và Gruzia khiến cho việc triển khai những đơn vị lớn rất tốn kém, do đó việc phối hợp tấn công từ hướng biển là rất cần thiết trong trường hợp có chiến tranh.

Không có nghi ngờ gì về việc Nga đã tài trợ cho các cuộc biểu tình chống tổng thống Saakashvili từ 9/4. Tuy vậy, quy mô của nó ngày càng nhỏ. Sau 1 tuần, khảo sát cho thấy công chúng đã không còn thái độ chống đối nữa, và Saakashvili vẫn là chính khách được lòng nhất ở Gruzia.

Liệu khi thất bại trong việc lật độ Saakashvili bằng chính trị, Nga sẽ chuyển sang biện pháp quân sự? Có vẻ như khả năng là rất nhỏ. Tuy vậy, trở lại tháng 8 năm ngoái, không ai đã có thể đoán rằng chiến tranh lại có thể xảy ra.

Hiện trường án mạng





Con thuyền cứu hộ nơi mà 4 tên cướp biển cầm giữ thuyền trưởng Richard Phillips đang được thu hồi để phục vụ việc điều tra, sau chiến dịch giải cứu thành công con tin.

Trong 2 bức ảnh, ta có thể thấy cửa sổ bên mạn phải và phía trước đã bị vỡ, rất có thể từ những phát đạn của xạ thủ SEAL.

Lắp ráp F-22



F-22 Raptor là chiến đấu cơ hiện đại nhất thế giới hiện nay. Nó là máy bay thế hệ thứ 5 duy nhất đang ở mức sản xuất tối đa. Và tất nhiên nó cũng được xếp vào hàng bảo mật tối đa. Những hình ảnh sau là chụp từ nhà máy Marietta, bang Georgia, là nơi lắp ráp cuối cùng. Có hơn 25,000 nhân công tại các nhà máy trên khắp 44 bang ở Mỹ tham gia vào các công đoạn chế tạo F-22.

Kịch bản về một cuộc không kích của Israel vào Iran?


Tình hình liên quan đến chương trình hạt nhân của Iran vẫn đang nóng bỏng khi mà nước này vẫn tiếp tục theo đuổi tham vọng của mình bất chấp sức ép từ cộng đồng quốc tế. Trong khi đó, Israel đã nhiều lần úp mở về khả năng sẽ thực hiện một cuộc đột kích bất ngờ vào các cơ sở hạt nhân của Iran. Trong quá khứ, họ đã 2 lần thực hiện điều này và đã chấm dứt tham vọng hạt nhân của Iraq và Syria. Gần đây nhất, Israel đã không kích tiêu diệt một đoàn xe chở tên lửa từ Iran qua cho Hamas trên lãnh thổ Sudan. Khoảng cách mà máy bay Israel phải bay qua trong chiến dịch này gần tương đương với khoảng cách đến các mục tiêu của Iran. Cho tới giờ, Mỹ vẫn tỏ ý phản đối ý định trên của Israel, trong khi sự hỗ trợ của Mỹ cho một chiến dịch như vậy là cực kỳ cần thiết, ví dụ như mở cửa không phận Iraq, hỗ trợ máy bay tiếp nhiên liệu, AWACS…

Tuy nhiên, với việc các đảng có đường lối cứng rắn, tiêu biểu là cựu thủ tướng Netanyahuh, giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử vừa qua, Israel ngày càng tỏ ý sẵn sàng đơn phương hành động. Đặc biệt khả năng Iran nhận được hệ thống phòng không tầm xa S-300 ngày càng gần khiến cho Israel không còn nhiều thời gian.

Học thuyết an ninh quốc gia của Israel giả định rằng các quốc gia A-rập luôn có ý định tiêu diệt Israel, và rằng nước này không có bất cứ đồng minh nào đáng tin cậy và phải tự mình đối phó với mọi nguy cơ. Và có một sự bất cân bằng lớn về tài nguyên và nguồn lực giữa Israel và kẻ thù. Còn học thuyết quân sự của Israel quy định rằng quốc gia này phải có khả năng răn đe để kẻ thù không thể nghĩ tới việc tấn công Israel. Nếu sự răn đe này không có tác dụng và chiến tranh nổ ra, Israel phải giành chiến thắng một cách nhanh chóng và hoàn toàn. Chiến tranh phải được nhanh chóng đẩy sang lãnh thổ đối phương và dựa vào khả năng cơ động thần tốc. Chiến lược để ngọn lửa chiến tranh cháy trên đất kẻ thù đã được Israel áp dụng rất thành công trong chiến tranh 6 ngày khi mà họ chủ động ra tay trước khi biết rằng các nước a rập chuẩn bị tấn công mình, và đã giành chiến thắng tuyệt đối.

Bản thân Israel cũng có chương trình hạt nhân của riêng mình và người ta ước tính nước này có từ 100-200 đầu đạn hạt nhân. Chính sách hạt nhân của Israel là không thừa nhận cũng không phủ nhận việc sở hữu hạt nhân và coi sự 'mập mờ' đó cũng là một dạng 'răn đe'. Israel coi việc các nước láng giềng có vũ khí hạt nhân và mối đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại của mình.

Một khi Israel quyết định không kích Iran, sử dụng tên lửa đạn đạo có vẻ là giải pháp được xem xét đầu tiên, vì nó 'an toàn', không phải lo lắng về các phi công như khi sử dụng chiến đấu cơ. Hiện Israel đang sở hữu tên lửa đạn đạo Jericho với nhiều phiên bản khác nhau.

Jericho I là tên lửa tầm ngắn, có thể mang đầu đạn 450kg hay đầu đạn hạt nhân 20 kiloton (tương đương quả bom ở Hiroshima) đi xa 500km.

Jericho II là tên lửa tầm trung, tầm bắn 1500km và có thể mang đầu đạn hạt nhân 1 megaton (1000 kiloton).

Jericho III, tên lửa tầm xa, tầm bắn từ 4800-6500km. Với lực lượng trên, tên lửa Israel có thể bao phủ toàn bộ khu vực vùng Vịnh.

Những mục tiêu quan trọng nhất có thể được chọn để tấn công có thể là: Trung tâm nghiên cứu hạt nhân Esfahan, nhà máy làm giàu uranium Natanz, nhà máy nước nặng và sản xuất plutonium Arak. Tiêu diệt những mục tiêu này có thể dừng hay trì hoãn chương trình hạt nhân Iran.

Sức ép tương đương 3 psi từ vụ nổ là đủ đển phá sập các công trình dân dụng. 5 psi sẽ phá sập hầu hết mọi tòa nhà. Mức 10 psi có thể phá hủy các công trình được bảo vệ bởi bê tông gia cường.

Nếu sử dụng chiến đấu cơ, có thể chúng sẽ dùng bom điều khiển bằng laset để đảm bảo tính chính xác.

GBU-27, nặng 1 tấn, có thể xuyên qua 3m bê tông, với 240kg thuốc nổ. GBU-28, 2.5 tấn, mang đầu đạn xuyên 2 tấn với 300kg thuốc nổ. Nó có thể xuyên qua 6m bê tông, 30m đất. GBU-10 mang đầu đạn chứa 500kg thuốc nổ.

Ngoài ra, người ta có thể dùng 2 quả bom đánh cùng 1 điểm để tăng khả năng xuyên thủng. Xác suất 2 quả bom laser được nhắm chính xác vào 1 điểm là 50%.

Lực lượng không quân Israel hiện có: 80 F-16I, 136 F-16C/D, 108 F-16 A/B, 25 F-15E, 34 F-15 A/B, 28 F-15 C/D. Tổng cộng 411.

Lực lượng tham gia không kích Iran sẽ là F15E và F-16I. F-15E là loại máy bay ném bom chiến đấu 2 chỗ ngồi, có khả năng xâm nhập tấn công lãnh thổ đối phương trong mọi điều kiện thời tiết và có khả năng đánh trả máy bay đối phương nếu bị phát hiện. F-16I là phiên bản hiện đại nhất của F-16, cũng là một máy bay ném bom chiến đấu.

Trang bị của mỗi chiếc F-15E có thể gồm 4 tên lửa phòng không, 2 GBU-28, mỗi chiếc F-16I có thể gồm 2 tên lửa không đối không, 2 GBU-27.

Ngoài ra, F-16C và F-15 C/D cũng có thể tham gia để chống lại máy bay chiến đấu và tên lửa phòng không của Iran.

Tổng số chiến đấu cơ tham gia có thể vào khoảng 90 chiếc, cùng với khoảng 10 máy bay tiếp nhiên liệu. Nếu như 90 chiến đấu cơ chỉ tương đương 20% sức mạnh của không quân Israel thì 10 máy bay tiếp dầu lại tương đương toàn bộ số máy bay cùng loại mà Israel hiện có.

(còn tiếp).

Radar tầm xa ngoại biên

Như đã biết, giới hạn đường chân trời luôn là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến tầm hoạt động của radar. Bằng cách dựa vào cách thức mà sóng radar tương tác với bầu khí quyền, người ta có thể tạo ra những loại radar có khả năng 'nhìn' xa hơn giới hạn những loại radar thường. Những radar ngoại biên (OTH) này thường có độ chính xác kém, nên chỉ dùng trong vai trò cảnh báo sớm, tuy vậy hiện nay tính năng của chúng cũng đã được nâng cao rất nhiều.

Các hệ thống OTH được chia làm 2 loại chính, sóng mặt đất và sóng trên không. Hệ thống sử dụng cơ chế sóng trên không còn gọi là OTH-B, nó dùng tầng điện ly của bầu khí quyển để phản xạ lại các sóng rdadar, thường là ở tầng số 5-28 MHz, nhờ đó sóng radar sẽ đi xa hơn giới hạn đường chân trời của mình. Nhược điểm của hệ thống này là sự tồn tại của 'vùng tối', nơi mà radar không thể 'nhìn' thấy gì. Radar dùng cơ chế sóng mặt đất, còn gọi là OTH-SW, dựa vào việc làm cho sóng radar lan truyền theo bề mặt của đại dương, đi xa hơn 'đường chân trời'. Do đó, OTH-SW phải được đặt trên bờ biển, và nó không có vùng tối. Còn OTH-B có thể triển khai ở bất kỳ đâu. Những hệ thống radar ngoại biên thường có kích thước rất lớn so với các radar thường.

CHIẾN TRANH LẠNH

Trong thời chiến tranh lạnh, OTH chủ yếu được sử dụng trong việc phát hiện máy bay ném bom và tên lửa chiến lược. Cả Mỹ và LX đều sử dụng OTH-B, của Mỹ là AN/FPS-118, của LX là Duga-3. Mỗi hệ thống được triển khai tại 2 địa điểm. Hiện nay thì cả 2 đều đã ngừng hoạt động. Hình bên dưới là các giàn phát (trên) và thu (dưới) của AN/FPS-118 ở bờ tây của Mỹ (giáp với Thái Bình Dương).



HIỆN NAY

Hiện nay Mỹ sử dụng radar OTH-B AN/TPS-71, có khả năng tái triển khai tại nhiều vị trí khác nhau. Ban đầu nó được lắp đặt ở Alaska để theo dõi bờ biển Nga cho tới 1993. Hiện có 3 hệ thống được lắp ở bờ Đông (Đại tây dương) và quanh biển Carribe, để hỗ trợ việc chống buôn lậu ma túy. (Xem hình dưới).


Còn Nga đang ngả về hướng dùng công nghệ OTH-SW, bao gồm hệ thống di động IRIDA, có tầm 300km và một hệ thống lớn hơn ở vùng Viễn Đông, được cho là để giám sát vùng Biển Nhật Bản. Hình dưới là giàn thu của hệ thống này.



Nước Úc, với vùng đại dương khổng lồ bao quanh, đã triển khai một hệ thống OTH-B tên Jindalee. Được triển khai tại 3 địa điểm, chúng được kết nối thành mạng JORN, theo dõi vùng trời và vùng biển phía tây và bắc Úc. Nó có tầm từ 800-3000km và được cho là có độ chính xác rất cao.Bên dưới là hình các giàn phát và thu của Jindalee.









Pháp cũng đang phát triển OTH-B của riêng mình, Nostradamus, có tầm 700-2000km, điểm đặc biệt của nó là các giàn angten có dạng hình ngôi sao.

TQ được cho là đã phát triển OTH-B từ 2001, với tầm từ 800-3000km. Các giàn thu phát đặt cách nhau 100km. Tình trạng hoạt động cũng như tính năng của nó chưa được hiểu rõ, nhưng được cho là có tầm bao phủ như hình dưới.





Ngoài ra TQ còn nghiên cứu OTH-SW, với tầm hoạt động dự kiến như hình dưới.



Nhiệm vụ chính của các hệ thống trên có thể là để hỗ trợ cho ý định của TQ
dùng tên lửa đạn đạo chống lại tàu sân bay Mỹ. Theo đó, radar OTH sẽ đóng vai trò cảnh báo, phát hiện từ xa. Sau đó, các phương tiện khác như vệ tinh, UAV sẽ xác định vị trí chính xác của mục tiêu.