30.8.09
Hải tặc nhắm bắn trực thăng Mỹ
27.8.09
Mỹ - Công nghệ trong Transformer (P.3)
Lực lượng hỗ trợ cho nhóm của thiếu tá Lennox ở Ai cập được đổ bộ vào, sử dụng tàu đệm hơi LCAC. So với những tàu đổ bộ cổ điển, như loại được dùng ở Normandy, tàu đệm hơi là 1 bước tiến lớn, ko chỉ về tốc độ, sức tải mà quan trọng nhất là sự linh hoạt. Tàu đổ bộ loại cũ chỉ có thể dùng được cho chưa tới 10% chiều dài bờ biển trên thế giới, với tàu đệm hơi, con số này là hơn 70%, nhờ đó mà người ta có nhiều lựa chọn hơn khi lên kế hoạch đổ bộ. LCAC không phải được thiết kế độc lập như một số loại tương tự, ví dụ như Zurb của Nga, vốn có kích thước lớn hơn. Nó được thiết kế để có thể được chứa bên trong các tàu hỗ trợ đổ bộ như Wasp hay San Antonio, và di chuyển binh lính và thiết bị từ tàu mẹ vào bờ biển. Tốc độ tối đa trên 40 hải lý/h và tầm hoạt động trên 200 hải lý. Sức tải tối đa là 75 tấn. Trong phim chỉ có 2 chiếc xuất hiện, và chỉ với 2 chiếc này thì có thể đổ bộ 1 lực lượng hùng hậu như trong phim, khi mà chỉ riêng 1 chiếc xe tăng Abram đã nặng tới 70 tấn.
Jetfire là một trong những nhân vật khác đặc biệt của bộ phim, là một Decepticon nhưng đã chuyển sang phe Autobot. Jetfire tồn tại dưới lốt của 1 chiếc SR-71 Blackbird, một trong những huyền thoại của công nghệ hàng không quân sự. Cho tới nay, nó vẫn là chiếc máy bay nhanh nhất từng trong biên chế chính thức của mọi lực lượng không quân trên thế giới. Những mẫu máy bay nhanh hơn nó đều chỉ ở mức mẫu thử nghiệm. Tiền thân của SR-71 là chiếc A-12, có hình dạng bên ngoài gần giống SR-71. A-12 được đặt hàng để thay thế cho U-2 sau khi chiếc này không còn miễn nhiễm với hệ thống phòng không của LX nữa. Điều đặc biệt nhất về chiếc A-12 có lẽ là sự bí mật tuyệt đối của dự án. Thậm chí ngay cả không lực Mỹ cũng không biết đến sự tồn tại của nó (vì dự án là của CIA chứ không phải của quân đội). Chính vì vậy mà khi những báo cáo từ các máy bay dân sự tình cờ nhìn thấy những 'vật thể bay không xác định' ngay giữa nước Mỹ xuất hiện ngày một nhiều thì có nhiều sĩ quan cao cấp trong không lực Mỹ lo ngại rằng đó có thể là 1 máy bay do thám của LX!
SR-71 được thiết kế như một máy bay do thám chiến lược siêu thanh, với đội bay 2 người. "Vũ khí" chính của nó để vượt qua các hàng rào phòng không tân tiến nhất là tốc độ và trần bay lớn của mình. Các thông số chính: trọng lượng tối đa 77 tấn, tốc độ tối đa 3530km/h, tương đương Mach 3.3 ở độ cao 24km (Mach thay đổi theo độ cao). Trần bay 26km, tầm bay tối đa 4800km, và nó có thể được tiếp nhiên liệu trên không. Không chỉ giữ kỷ lục về tốc độ, SR-71 cũng là máy bay có trần bay lớn nhất được sản xuất hàng loạt và chính thức nằm trong biên chế.
Phần thân và vỏ máy bay làm chủ yếu từ titan và hợp kim titan để chống lại nhiệt độ sinh ra do ma sát với không khí. Nó có khả năng do thám 100,000 dặm vuông trong 1 giờ. Các cảm biến nó có thể mang theo gồm radar ảnh ASARS-1 gắn ở mũi máy bay, có thể thay thế bằng cảm biến quang học góc rộng Litton Itek. Dữ liệu từ ASARS có thể được truyền về trạm mặt đất dể xử lý với tốc độ 274Mbs trong khoảng cách 300 dặm. Nếu ngoài tầm truyền dữ liệu, dữ liệu sẽ được lưu lại trên máy bay. Ngoài ra, 2 bên hông máy bay còn có 2 camera chụp dùng để chụp điểm mục tiêu.
Động cơ J-58 của nó là động cơ phản lực quân sự duy nhất cho tới nay có thể hoạt động liên tục ở chế độ đốt hậu, và ngược với các động cơ phản lực khác, ở tốc độ càng cao thì hiệu suất động cơ lại càng tăng. Điều này có được nhờ thiết kế đặc biệt của động cơ, lai giữa động cơ phản lực thông thường và động cơ ramjet. Nguyên tắc chung của động cơ phản lực là không khí được hút vào trong động cơ, nén lại và (do đó) nóng lên, được đẩy vào buồng đốt nơi nó được trộn với nhiên liệu vào thành hỗn hợp nổ. Sau khi được kích nổ, thể tích và nhiệt độ của hỗn hợp tăng đột ngột và tạo thành luồng phản lực thoát ra ngoài, tuy nhiên trước đó nó sẽ đi qua 1 turbin nữa, nơi mà 1 phần năng lượng được giữ lại để làm quay bộ turbin nén khí ở phần trước của động cơ. Với những động cơ phản lực quân sự thì trước khi thoát ra ngoài, luồng khí phản lực sẽ được trộn với nhiên liệu và đốt một lần nữa (đốt hậu) cho phép máy bay đạt tốc độ siêu âm. Tuy vậy quá trình này rất tốn nhiên liệu và bản thân động cơ cũng chỉ chịu được trong 1 thời gian ngắn trước khi tan chảy. Với động cơ ramjet, không khí được nén lại không phải bằng các cánh quạt và hoàn toàn bằng tốc độ của luồng khí vào kết hợp với hình dạng của cửa hút khí. Do đó nó chỉ thích hợp ổ tốc độ rất cao.
Điểm đặc biệt của J-58 là nó có 6 ống dẫn khí lớn bao bọc quanh lõi động cơ phản lực. Cơ chế hoạt động của nó như sau. Dòng khí vào được nén sơ cấp nhờ vào 2 đầu nén khí có hình dạng chóp nón và chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy ở đầu 2 động cơ của Jetfire. Sau đó không khí được tách ra nhờ vào các van biến thiên. Một phần đi qua các tầng chong chóng nén, như với động cơ thường. Phần còn lại đi qua 6 ống khí đi thẳng đến tầng đốt hậu, giống như một động cơ ramjet. Tốc độ càng cao thì máy bay càng phụ thuộc nhiều vào luồng khí đi thẳng qua 6 ống dẫn. Lí do là vì khi đó, nhiệt độ tạo ra bởi tầng nén đầu tiên là đã đủ mà không cần phải đi qua các các tầng cách quạt nén khí nữa. (Nhiệt độ dòng khí trước khi vào buồng đốt sẽ quyết định hiệu suất mà động cơ có thể lấy được từ nhiên liệu, nhiệt độ càng cao thì càng hiệu quả, tuy nhiên phải tính đến giới hạn chịu đựng của vật liệu).
Do được thiết kế tối ưu cho mức vận tốc cực cao (Mach 3) nên SR-71 hoạt động rất khó khăn ở mức vận tốc thấp. Thậm chí để vượt bức tường âm thanh, nó phải thực hiện động tác bổ nhào. Nhưng sau khi đã đạt tốc độ siêu âm rồi thì không gì có thể cản được nó lao thẳng đến mốc Mach 3 và duy trì ở đó.
Với tốc độ và độ cao như thế, có thể nói SR-71 là máy bay 'bất khả xâm phạm'. Trong suốt thời gian hoạt động của mình, đối phương đã 4000 lần cố gắng ngăn chặn Blackbird, bằng máy bay hoặc tên lửa, nhưng không 1 lần thành công. Đơn giản là ví nó bay quá cao và quá nhanh.
Blackbird được thiết kế bởi Trung tâm Chồn hôi, một trung tâm thiết kế huyền thoại của Lockheed Martin, nơi ra đời của U-2, A-12, F-117A, F-22, F-35. Blackbird có 1 vị trí đặc biệt trong lịch sử công nghệ hàng không không chỉ vì những đặc tính có 1 không 2 của mình mà còn vì nó đánh dấu 1 bước chuyển lớn trong công nghệ đỉnh cao sử dụng trong các 'siêu máy bay'. Trước kia, mục tiêu của các kỹ sư là nhanh hơn, cao hơn, xa hơn. Các máy bay như U-2, SR-71 được thiết kế để vượt qua hàng rào phòng không bằng cách bay rất nhanh, rất cao. Tuy nhiên, sau Blackbird, ưu tiên được chuyển sang công nghệ tàng hình, với F-117A hay B-2. Đối với các chiến đấu cơ thông thường khác, ưu tiên cũng chuyển từ vấn đề sức mạnh của động cơ sang các thiết bị điện tử, đặc biệt là radar. Thực tế thì thế hệ 4 trở đi thì các chiến đấu cơ đều có giới hạn tốc độ tối đa từ Mach 2 - 2.5.
Bản thân Blackbird cũng là máy bay đầu tiên có tích hợp những công nghệ nhằm làm giảm bề mặt phản xạ radar, tuy rằng nó hoàn toàn không phải là 1 máy bay tàng hình. Việc ra đời của vệ tinh do thám đã khiến cho vai trò của những máy bay do thám chiến lược như U-2, SR-71 suy giảm nhiều. Khi vệ tinh Corona, vệ tinh do thám đầu tiên của thế giới, chuyển dữ liệu về (khi đó bằng cách thả cuộn phim trở lại bầu khí quyển và máy bay sẽ phải bắt lấy trước khi nó rơi xuống biển), lượng hình ảnh trong 1 lần còn lớn hơn toàn bộ số hình ảnh mà tất cả các chuyến bay của U-2 thu được. Dù sao thì với những thành tích, kỷ lục mà SR-71 nắm giữ cũng như vai trò bản lề trong công nghệ, nó xứng đáng là 1 tượng đài.
Một trong những công nghệ tương lai xuất hiện trong Transformer là pháo điện từ mà một khu trục hạm dùng để tiêu diệt một Decepticon trên đỉnh kim tự tháp. Hiển nhiên là một vũ khí như vậy không tồn tại trên thực tế, mặc dù hải quân Mỹ đã thử nghiệm thành công 1 nguyên mẫu pháo điện từ với sơ tốc đầu đạn Mach 7 (tương đương trong phim). Cùng với laser, pháo điện từ được xem là tương lai của vũ khí hải quân, được gọi chung là vũ khí năng lượng định hướng, thay cho các vũ khí sử dụng chất nổ thông thường như pháo, tên lửa. Tuy nhiên, một trở ngại lớn cho việc áp dụng trên thực tế là lượng điện năng khổng lồ mà những loại vũ khí này yêu cầu. Các loại chiến hạm hiện nay đều không được thiết kế để có thể một lượng điện năng lớn như vậy. Trong những năm qua, nhu cầu về năng lượng của các chiến hạm đã tăng khá nhiều và hầu như đã tới mức giới hạn. Nguồn gốc của nhu cầu tăng lên này là do sự phát triển của radar, đặc biệt là công nghệ radar quét điện tử. Radar mạnh hơn đồng nghĩa với cần nhiều năng lượng hơn. Ngoài ra, khi radar hiện đại hơn, nghĩa là ta thu được nhiều dữ liệu hơn, nhưng để chuyển dữ liệu từ radar thành thông tin có ích thì ta cũng cần các thiết bị xử lý mạnh tương ứng mới có thể tận dụng được sức mạnh của radar. Ví dụ như những máy tính mạnh hơn, cũng đồng nghĩa với nhiều điện năng tiêu thụ hơn. Do đó, để có thể có nguồn điện cần thiết cho các vũ khí năng lượng, cần có các thiết kế mới, tối ưu hóa năng lượng của tàu.
Một cách tiếp cận là hạt nhân hóa toàn bộ hạm đội. Một cách khác, như trong các thiết kế mới của hải quân Mỹ như khu trục hạm DDG-1000 Zumwalt, là chuyển toàn bộ năng lượng tàu có thể sản sinh ra sang dạng điện năng. Trước kia thì 1 phần lớn năng lượng của tàu sinh ra được chuyển thẳng từ động cơ (turbin phản lực) ra chân vịt dưới dạng năng lượng cơ. Theo các thiết kế mới thì toàn bộ năng lượng sản sinh ra sẽ dưới dạng điện năng và sẽ được phân phối tùy theo nhu cầu trong từng thời điểm.
Khi lực lượng NEST Team bị các Decepticon bao vây ở Ai cập, một trong những loại hỏa lực hỗ trợ mạnh nhất là họ có được là từ 1 chiếc B-1B Lancer thả hàng chục quả bom JDAM. Được thiết kế trong chiến tranh lạnh với vai trò chủ yếu là để phóng tên lửa hành trình mang đầu đạn hạt nhân, B-1B đã chứng tỏ vai trò trong các cuộc chiến quy ước tại Iraq cũng như tại Afghanistan. Chủ yếu nhờ vào sự hoàn thiện của công nghệ tìm mục tiêu và bom thông minh. Mặc dù không hiệu quả, về mặt chi phí, như B-52, B-1B có lợi thế về tốc độ, vì là một máy bay ném bom siêu âm. Do đó, nó có thể có mặt nhanh hơn khi lực lượng trên mặt đất cần hỗ trợ. Ngoài ra, sự xuất hiện của JDAM, bom thông minh dẫn đường bằng vệ tinh, cho phép B-1B có thể hỗ trợ bộ binh một cách hiệu quả và chính xác hơn. Trong quá khứ, khi lực lượng 2 bên giao chiến gần nhau như trong cuộc chiến ở Ai cập thì chắc chắn không ai dám cho máy bay ném bom hạng nặng 'rải thảm' như vậy cả.
Tuy vậy, bom thông minh không phải là vũ khí duy nhất mà B-1B có thể sử dụng. Tại Afghanistan, khi gặp sức kháng cự mạnh của Taliban, bộ binh Mỹ có thể yêu cầu B-1B thực hiện hoạt động 'biểu dương sức mạnh', khi đó nó sẽ bay sát mặt đất với tốc độ siêu âm. Tiếng gầm rít từ 4 động cơ phản lực đốt hậu cỡ lớn cùng với tiếng nổ khi vượt tường âm thanh tạo thành một 'trận bom âm thanh' có thể làm lung lay tinh thần của lực lượng Taliban gần đó. B-1B có thể thực hiện động tác này là vì nó được thiết kế để vượt qua hệ thống phòng không bằng cách bay rất nhanh ở độ cao thấp, bám sát địa hình.
Trên thực tế, đó chỉ là 1 trong rất nhiều lần mà lực lượng trên mặt đất của thiếu tá Lennox phải yêu cầu yểm trợ từ trên không. Trong phần 1 là khi bị bao vây ở Qatar, và tại Mission City, trong phần 2 là tại Ai cập. Trên thực tế, trong những chiến dịch đặc biệt, các lực lượng đặc nhiệm (như NEST Team trong phim) thường sẽ có 1 điều phối viên của không quân đi cùng. Những người này không chỉ đóng vai trò gọi máy bay và chỉ định mục tiêu và còn kiểm soát không lưu, phối hợp hoạt động các mọi máy bay gần đó. Và vì đi theo các đơn vị đặc nhiệm, những người này cũng cần có những tố chất đặc biệt và phải trải qua những đợt kiểm tra cực kỳ khắt khe.
Đầu tiên, những ứng viên trải qua 2 tuần tuyển chọn ban đầu. Sau đó là 15 tuần huấn luyện ở trường kiểm soát không lưu. Tiếp đó là 3 tuần huấn luyện nhảy dù. 3 tuần tiếp theo là về cách tồn tại trong tự nhiên. Cuối cùng là 13 tuần huấn luyện về điều khiển hỏa lực đường không. Nếu vượt qua tất cả, họ có thể cùng đi theo các đơn vị đặc nhiệm của quân đội Mỹ như Delta Force, Mũ nồi xanh, Biệt động, trừ lực lượng SEAL của hải quân. SEAL yêu cầu thêm 12 tháng rèn luyện thể lực. Bắt đầu là 5 tuần huấn luyện thế chất. Tiếp theo là 6 tuần học lặn, thêm 4 tuần rèn luyện nhảy dù. Tiếp đó là 12 tuần huấn luyện về kỹ năng cơ bản của SEAL và 8 tuần hoàn thiện các kỹ năng thực hiện nhiệm vụ.
(Còn tiếp - Phần cuối tập trung vào vũ khí cá nhân)
14.8.09
Mk 48

13.8.09
Mỹ - Công nghệ trong Transformer (P.2)
Phần 1
Khẩu đại liên mà Starcream sử dụng là M61A2, 6 nòng, cỡ đạn 20mm. Tốc độ bắn tối đa 7200 viên/phút, thường trong thực tế tốc độ được chỉnh từ 4000 - 6000 viên/phút. Với tốc độ này thì một loạt đạn trong 1 giây là đủ để hạ máy bay đối phương. Dòng M61 có độ tin cậy cao và đã được sử dụng trong hầu như mọi chiến đấu cơ của Mỹ từ hơn nửa thế kỷ qua, gồm F-104, F-105, F-106, F-111, F-4, B-47, B-52, B-58, F-15, F-16, F-22, F-18, F-14.
M61 có một phiên bản 3 nòng, gọi là M197, tốc độ bắn từ 750-1500 phát/phút, thường được trang bị trên trực thăng vũ trang AH-1Z Cobra của thủy quân lục chiến. Nó xuất hiện trong phần 2 của bộ phim, ở đoạn đầu, gắn trên một số xe cơ giới của lực lượng NEST trong chiến dịch ở Thượng Hải.
Blackout cũng được trang bị một đại liên 6 nòng, nhưng nhỏ hơn, là M134, dùng đạn cỡ 7.62mm. M134 có một phiên bản cá nhân, nổi tiếng khi xuất hiện trong Kẻ hủy diệt 2. Trong Transfomer 2, nó được 1 lính NEST sử dụng trong đợt càn ở Thượng hải.
Tuy vậy, uy lực nhất trong những đại liên đa nòng là khẩu GAU-8/A Avenger, bắn đạn cỡ 30mm với nhịp bắn 3900 viên/phút, sơ tốc đầu đạn hơn 1km/s. Nó được trang bị trên máy bay A-10, loại máy bay tấn công mặt đất chuyên dùng để diệt tăng. Không một loại thiết giáp nào có thể chịu được một loạt đạn 30mm dùng đầu đạn uranium nghèo. Trong phần 1 có 2 chiếc A-10 xuất hiện. Chúng là những máy bay đầu tiên được không lực cử tới để hỗ trợ hỏa lực cho nhóm biệt động của thiếu tá Lennox khi họ bị Skorponok tấn công ở Qatar. Trong phần 2, ở cuộc chiến tại Ai cập cũng có 1 đoạn ngắn quay 2 chiếc A-10 bay ngang qua, tuy không có cảnh chiến đấu của chúng.
Trên thực tế thì A-10 có thể được xem như một trường hợp đặc biệt mà trong đó cả chiếc máy bay được thiết kế xoay quanh loại vũ khí chính của nó (GAU-8/A) thay vì ngược lại, mặc dù ngoài khẩu đại liên thì nó còn có thể mang theo nhiều loại vũ khí khác, chủ yếu là tên lửa không đối đất Maverick, với 3 phiên bản điều khiển bằng vô tuyến, hồng ngoại và laser.
Trước kia A-10 chỉ được thiết kế để hoạt động vào ban ngày. Chỉ trong một số ít trường hợp đặc biệt mà A-10 hoạt động vào ban đêm. Đó là khi nó tham gia vào một chiến dịch tìm kiếm và giải cứu phi công lâm nạn trong lãnh thổ đối phương. Đôi khi trong các nhiệm vụ đó A-10 được giao nhiệm vụ hỗ trợ các trực thăng trong việc đối phó với lực lượng trên bộ của đối phương. Nếu vì lí do nào đó nhiệm vụ bị kéo dài cho đến đêm thì A-10 vẫn có thể được yêu cầu ở lại, khi đó phi công sẽ phải 'nhìn' thông qua thiết bị hồng ngoại gắn trên đầu tên lửa Maverick của mình.
Ra đời từ 1976, với nhiệm vụ chính là chặn đứng "làn sóng thép" của lực lượng thiết giáp khối Warsaw trong trường hợp xảy ra chiến tranh giữa khối này và Nato. Và với những chiến tích ở 2 cuộc chiến tranh vùng Vịnh, Kosovo và Afghanistan, A-10 đã chứng tỏ mình là loại máy bay yểm trợ trực tiếp cho lục quân tốt nhất hiện có. Không có tốc độ và khả năng tăng tốc như các chiến đấu cơ, A-10 với đôi cánh dài và thẳng cho phép tạo lực nâng lớn, và cực kỳ linh hoạt khi bay ở tốc độ chậm và thấp, những yếu tố cần thiết cho một máy bay yểm trợ hỏa lực tầm gần (CAS). Nó thường bay quanh trận địa với những vòng ngoặt gấp và thấp, thường chỉ ở độ cao của ngọn cây để săn tìm xe tăng đối phương. Nó được thiết kế để có thể hoạt động từ những đường băng dã chiến. Nó có 11 điểm treo vũ khí, với tổng tải trọng hơn 7 tấn. Tốc độ tối đa 725km/h, tốc độ trung bình 555km/h.
Do hoạt động ở độ cao thấp như vậy nên nguy cơ chính của nó không phải là tên lửa phòng không mà là hỏa lực bắn thẳng của các loại súng pháo phòng không. Do đó, A-10 còn là một trong những máy bay có lớp giáp vững chắc nhất. Xung quanh buồng lái là một lớp titan dày đến 38mm để bảo vệ phi công và các thiết bị điện tử. Nhiên liệu được giữ trong những thùng đặc biệt với một lớp bọt bao quanh, ngăn không cho nhiên liệu bay hơi và tạo thành hỗn hợp nổ trong trường hợp nó bị bắn thủng.
A-10 được thiết kế với những cánh liệng (bề mặt điều khiển) tách hẳn khỏi cánh để tăng độ ổn định khi nó nhắm bắn mục tiêu bằng khẩu đại liên của mình. Nó vẫn có thể bay được với một động cơ bị bắn rời, một cánh lái bị mất hoặc một mảng cánh lớn bị bắn lìa.
Không lực Mỹ từng có kế hoạch ngừng sử dụng A-10, nhưng nó tỏ ra quá hữu dụng, đối với bộ binh thì A-10 chính là loại máy bay mà họ tin tưởng nhất. Do đó, thay vì cho nó về hưu, không quân quyết định nâng cấp nó lên thành A-10C, với những thiết bị định vị và xác định mục tiêu hiện đại nhất, biến nó thành một máy bay tấn công hoạt động cả ngày và đêm, trong mọi điều kiện thời tiết, và sử dụng hầu như mọi loại vũ khí không đối đất hiện đại nhất, gồm cả bom điều khiển bằng vệ tinh JDAM.
Thực ra thì có lẽ chỉ cần A-10 là đủ để giúp xử lý Skorponok mà không cần gọi thêm AC-130. Nhưng nếu vậy thì chúng ta đã không thể xem một trong những cảnh ấn tượng nhất của bộ phim khi AC-130 rải mưa đạn xuống robot Decepticon. Là phiên bản đặc biệt của máy bay vận tải C-130, nó được trang bị một pháo 105mm, một pháo 40mm, cải tiến từ pháo cao xạ, và một đại liên đa nòng 25mm. AC-130 chỉ hoạt động về đêm do hoạt động ở độ cao thấp và tốc độ chậm. Nó cũng là một phương tiện thường được sử dụng để hỗ trợ các nhiệm vụ đặc biệt. Nó bay theo vòng tròn quanh mục tiêu để vũ khí đặt bên hông nhả đạn. Trong các phiên bản mới, việc kết hợp giữa cảm biến hồng ngoại và thiết bị ngắm bắn điện tử cho phép sĩ quan điều khiển chọn mục tiêu chỉ bằng cách 'click' chọn nó và hỏa lực sẽ được tự động duy trì vào mục tiêu. Ngoài ra, pháo 40mm cũng được thay bằng loại 30mm. Trong phim, nhịp bắn của hỏa lực từ AC-130 rõ ràng cao hơn nhiều so với thực tế, đặc biệt là từ khẩu pháo 105mm.
Hoàn thiện cho bộ ba phương tiện trên không có nhiệm vụ CAS là Apache AH-64, xuất hiện một đoạn ngắn đầu phần 2, trong cuộc vây ráp ở Thượng Hải. Cũng như A-10, AH-64 được thiết kế trong thời kì chiến tranh lạnh với mục đích tìm diệt thiết giáp của khối Warsaw. Nó hoạt động ở độ cao ngang các ngọn cây và bất ngờ vọt lên, tấn công mục tiêu bằng tên lửa Hellfire điều khiển bằng laser. Và cũng như A-10. AH-64 được thiết kế rất vững chắc để có thể chịu được hư hại do hỏa lực từ mặt đất. Động cơ turbin phản lực của nó có thể hoạt động trong 30 phút trong tình trạng khô dầu, và đã được kiểm chứng trong thực tế chiến tranh ở cuộc chiến Vùng Vịnh lần 2. Một điều về Apache mà ít người biết là trong những tình huống bắt buộc, nó cũng có thể đóng vai trò tải thương, cho dù trên trực thăng chỉ có 2 chỗ ngồi cho phi công. Khi đó cáng cứu thương, cùng với y sĩ, sẽ được gắn trên chiếc cánh ngắn bên hông, vốn để gắn vũ khí.
Kể từ khi ra đời đến nay, Apache đã trải qua nhiều đợt cải tiến quan trọng. Đặc biệt là sự ra đời của phiên bản Longbow, với một radar được gắn thêm vào phía trên chong chóng chính, dùng cho việc xác định mục tiêu trên bộ, và kết hợp với Hellfire 2, dẫn bắn bằng radar thay vì laser. Tuy vậy, khi hoạt động ở những nơi có địa hình núi, phải hoạt động ở độ cao lớn, đôi khi radar được tháo bỏ nhằm giảm trọng lượng. Khó nhận thấy hơn là việc tăng khả năng kết nối của nó, cho phép một máy bay phát hiện mục tiêu và một chiếc khác tiêu diệt nó, hay khả năng chia sẻ hình ảnh video thời gian thực giữa nó và các phương tiện khác, cũng như với bộ binh trên thực địa. Thế hệ mới nhất của nó sẽ thậm chí có thể điều khiển một trực thăng không người lái khác làm nhiệm vụ trinh sát, chỉ điểm, hay trực tiếp tiêu diệt mục tiêu mà không cần trực thăng mẹ phải lộ diện.
Không chỉ về kỹ thuật, những thay đổi lớn không kém xuất hiện trong chiến thuật sử dụng chúng. Ban đầu Apache hoạt động theo nhóm lớn, thực hiện những cuộc đột kích lớn vào sau lưng chiến tuyến đối phương theo những kế hoạch định trước vào những mục tiêu cụ thể, chịu sự điều động của cấp chỉ huy trên cao, thường là sư đoàn (Apache được biên chế vào các sư đoàn lục quân). Nhưng hiện nay, tại Iraq và Afghanistan, Apache thường được sử dụng theo nhóm nhỏ, trực tiếp hỗ trợ lực lượng mặt đất bằng cách bay vòng phía trên, và sẵn sàng hỗ trợ hỏa lực khi mặt đất yêu cầu, không phải thông qua cấp chỉ huy ở trên nữa.
Trong phần 2, có rất nhiều cảnh xuất hiện C-17, máy bay vận tải hạng nặng mới nhất của không lực Mỹ, và là phương tiện di chuyển chính của lực lượng NEST. So với những tiền bối thời chiến trang lạnh như C-5, An-124…thì C-17 có sức tải không bằng, nhưng điểm mạnh của nó là nó chỉ cần đường băng dài bằng 1 nửa so với các máy bay thế hệ trước, cho phép nó cất và hạ cánh trên những sân bay dã chiến sát với chiến trường, do đó rất hữu dụng và linh hoạt trong việc tiếp tế cho lực lượng trên bộ. Được ứng dụng những thành tựu mới nhất của ngành hàng không dân dụng, C-17 có độ tin cậy cao hơn nhiều so với các máy bay trước đó. Khi quân đội Mỹ đang phải chiến đấu ở 2 mặt trận và đều cách chính quốc nửa vòng trái đất thì hạm đội hơn 200 chiếc C-17 là một trong những loại phương tiện được sử dụng nhiều nhất. Việc có được 2 chiếc tham gia vào quá trình quay phim chứng tỏ sự ưu ái mà không lực Mỹ dành cho bộ phim này.
Một loại máy bay cỡ lớn nữa xuất hiện trong phim là máy bay tuần tra trên biển P-3 Orion của hải quân, xuất hiện một đoạn ngắn trong đoạn khi Megatron được hồi sinh từ đáy đại dương. Ngoài ra, trong cả 2 tập phim có sự xuất hiện của máy bay cảnh báo sớm và kiểm soát trên không (AWACS) Sentry để phối hợp và điều động các máy bay đến hỗ trợ cho đơn vị của thiếu tá Lennox ở Qatar (phần 1) và Ai cập (phần 2). Được coi như một sở chỉ huy trên không, AWACS tạo ra một cuộc cách mạng trong không chiến, trong tương lai, những mẫu AWACS dùng radar quét bằng cơ dạng xoay như vậy sẽ dần được thay thế bởi những máy bay mang radar quét điện tử, gọn nhẹ và cho tốc độ quét nhanh hơn như Wedgetail. Thật ra quan trọng không kém radar chính là hệ thống điện tử đi kèm và khả năng xử lý lượng dữ liệu mà radar cung cấp để cho ra thông tin hữu ích. Nếu máy tính mang theo trên máy bay không đủ sức, nó sẽ phải truyền 1 phần dữ liệu về lại mặt đất để xử lý. Ví dụ như trường hợp của A-50 Mainstay, AWACS của LX ra đời sau Sentry. Do đó khi Ấn độ quyết định mua cho mình 1 hệ thống AWACS riêng, họ chỉ sử dụng phần máy bay của A-50, là chiếc IL-76 và gắn vào đó hệ thống radar và thiết bị xử lý đi kèm Phalcon của Israel.
(Còn tiếp)
3.8.09
Mỹ - Công nghệ trong Transformer (P.1)
Hai phần của bộ phim Transformer đều là những phim bom tấn, với doanh thu hàng trăm triệu dollar và thu hút một lượng fan đông đảo trên toàn thế giới. Về mặt nghệ thuật thì phim không có gì đặc biệt, nếu không nói là tệ. Kịch bản gượng ép, tiết tấu phim không chặt chẽ, nhân vật đa số không có chiều sâu. Tuy vậy với chức năng giải trí thì phim cũng rất đáng xem, đặc biệt về mặt kỹ xảo. Góp phần cho thành công đó không chỉ gồm những diễn viên chính robot (kết quả của CGI - đồ họa vi tính) mà còn do việc trong phim có sự xuất hiện của rất nhiều hệ thống vũ khí hiện đại, với mật độ dày đặc mà ít phim nào có được.
Để có được sự ưu ái này từ phía quân đội Mỹ, tất nhiên đạo diễn Micheal Bay sẽ phải "trả ơn" bằng cách PR, đánh bóng hình ảnh cho quân đội. Mối 'lương duyên' kiểu như vậy không phải là hiếm và đã tồn tại từ lâu. Giới làm phim thì tất nhiên cần được tiếp cận với những thiết bị, vũ khí thật để bộ phim của mình trông thực tế và hoành tráng. Còn phía quân đội thì cần được xây dựng hình ảnh tích cực về mình. Sở dĩ như vậy vì kinh phí quốc phòng hàng năm do quốc hội quyết định, hay cụ thể hơn là những nghị sĩ. Quyết định của các nghị sĩ tất nhiên phụ thuộc vào các cử tri, những người sẽ giữ họ lại thêm 1 nhiệm kỳ nữa. Do đó, một trong những cách tác động vào các nghị sĩ là phải xây dựng được hình ảnh đẹp và chiếm được cảm tình và sự ủng hộ của công chúng, để các nghị sĩ có nhiều động lực trong việc thông qua ngân sách có lợi cho bộ quốc phòng.
Việc thậm chí còn đi xa hơn thế, vì ngay bên trong bộ quốc phòng cũng có sự cạnh tranh quyết liệt giữa 4 quân chủng: không quân, lục quân, hải quân, thủy quân lục chiến. Và mỗi quân chủng cũng có nhu cầu tự PR bản thân.
Đối với phim Transfomer thì có thể nói không quân đặc biệt được PR rất mạnh, nhất là trong phần 1. Rất nhiều lần trong phim các nhân vật nhắc đến không lực như một 'cứu tinh', đặc biệt là trường đoạn khi bộ trưởng bộ quốc phòng và các chuyên viên tin học của mình bị kẹt trong căn cứ ngầm ở đập Hoover và phải tìm cách liên lạc ra bên ngoài để tìm sự hỗ trợ cho các nhân vật chính. Nhờ đó mà đạo diễn có thể tiếp cận nhiều hệ thống vũ khí tân tiến nhất của không quân như F-22, C-17, AC-130, A-10…
Ngay trong cảnh mở đầu phim là 2 chiếc V-22, máy bay chong chóng xoay, sự kết hợp giữa trực thăng và máy bay cánh bằng. V-22 không phải là giải pháp thay thế cho trực thăng, vì tuy có tốc độ và tầm hoạt động lớn hơn, sức tải của nó không bằng một số loại trực thăng cỡ lớn. Chính xác thì V-22 giống như một hệ thống 2-trong-1 thích hợp trong một số nhiệm vụ cần thiết sự linh hoạt, và sẽ cùng tồn tại với trực thăng, cũng giống như những hệ máy AIO (All-in-one) cùng tồn tại với những loại máy in, máy photocopy, fax chuyên dụng. V-22 vừa mới bắt đầu được thủy quân lục chiến sử dụng trên chiến trường Iraq gần đây và sẽ được đưa đến Afghanistan. Quá trình sử dụng thực tế này sẽ giúp hoàn thiện V-22, không chỉ với tư cách là 1 hệ thống vũ khí đơn lẻ mà còn là kẻ tiên phong của một công nghệ hoàn toàn mới. Những bài học từ V-22 sẽ giúp hoàn thiện những thế hệ tiếp theo. Một trong số đó là vấn đề sức nóng từ luồng phản lực thoát ra từ 2 động cơ turbine. Khi cất cánh, V-22 luôn ở chế độ trực thăng, với động cơ quay lên trên (thực tế thì cánh chong chóng của V-22 dài hơn chiều cao của máy bay, do đó khi còn trên mặt đất thì động cơ luôn hướng lên trên). Khi đó, luồng phản lực sẽ hướng thẳng xuống dưới. Đã có một trường hợp nó tạo nên một đám cháy lớn trên đồng cỏ sau khi máy bay cất cánh, nhưng nghiêm trọng hơn là khi nó vận hành từ tàu sân bay, do nhiệt tỏa ra có thể ảnh hưởng đến lớp sơn phủ đường băng.
Transformer đầu tiên xuất hiện trong phim là Blackout, một Decepticon dưới hình dạng của 1 chiếc MH-53 Pave Low. Đây là một phiên bản của trực thăng H-53 Stallion, được phát triển lên từ phiên bản HH-53 vốn được dùng trong chiến tranh Việt Nam. Có thể coi là loại trực thăng hiện đại nhất thế giới hiện nay, Pave Low được thiết kế để có thể hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, có thể bay với độ cao rất thấp và định hướng vớ độ chính xác cao. Do đó, nó được dùng cho những nhiệm vụ nguy hiểm, đòi hỏi phải đột nhập sâu vào lãnh thổ đối phương. Pave Low là loại trực thăng tiêu chuẩn dùng cho các chiến dịch đặc biệt. Nó có thể chở theo 38 lính, hoặc 9 tấn hàng hóa. Pave Low được trang bị những thiết bị như radar địa hình, cảm biến hồng ngoại, hệ thống phòng vệ, định hướng tiên tiến cho phép nó bay cách mặt đất chỉ 30m và bám sát theo địa hình.
Hệ thống phòng vệ tích hợp cung cấp cho phi hành đoàn cảnh báo tức thời về các mối nguy hiểm và đưa ra gợi ý hành động thích hợp. Phi hành đoàn còn được tiếp cận với thông tin thời gian thực về tình hình chiến trường xung quanh, về trạng thái hiện tại của chuyến bay, cũng như cảnh báo những nguy cơ phía trước để phi hành đoàn có thời gian chuẩn bị. Hệ thống định hướng tự động giúp giảm khối lượng công việc cho phi công. Các thông tin cập nhật đều được truyền trực tiếp từ vệ tinh và giải mã.
Trong chiến dịch bão táp sa mạc, 2 chiếc Pave Low đã dẫn 1 đoàn trực thăng Apache đột nhập sâu vào lãnh thổ Iraq, tấn công các trạm radar, tạo một lỗ hổng trong hệ thống phòng không của Iraq để máy bay liên quân tràn vào, chính thức mở màn cho chiến tranh vùng vịnh lần 1. Nói chung, trong gia đình trực thăng của Mỹ thì tiền tố "Pave" thường được dùng cho những phiên bản có khả năng đột nhập vào lãnh thổ đối phương để thực hiện những nhiệm vụ nguy hiểm. Ngoài Pave Low còn có HH/MH-60 Pave Hawk, phiên bản của H-60 BlackHawk, chuyên dùng để cứu hộ phi công.
Một Decepticon khác là Bonecrusher, dưới hình dạng của một xe chống mìn (MRAP) Buffalo. Trong phim Bonecrusher là robot đã giao chiến với Optimus prime trên xa lộ liên bang và bị tiêu diệt. Khi quân đội Mỹ bắt đầu chiến dịch xâm lăng Iraq năm 2003, loại phương tiện cơ giới phổ biến nhất là những chiếc Humvee. Thường chúng được tháo bỏ cửa 2 bên, thậm chí không có cả nóc xe. Tuy nhiên, sau này khi mà các thiết bị nổ tự tạo (IED) được phiến quân sử dụng ngày một nhiều, nhằm vào các đoàn xe quân sự thì quân đội Mỹ buộc phải nâng cấp lớp giáo của Humvee. Nhưng vẫn không thể chống lại được sức công phá của IED, và nó trở thành loại vũ khí gây nhiều thương vong nhất cho quân đội Mỹ. Trước tình hình đó, hàng ngàn MRAP được cấp tốc đặt hàng.
MRAP được thiết kế đặc biệt chuyên để chống lại mìn và IED. Công nghệ này ra đời ở Nam phi và theo các kỹ sư di cư sang Mỹ và Anh. Ngoài những chi tiết hiển nhiên như kính chống đạn, thân xe bọc thép thì những điểm đặc trưng nhất của nó là gầm xe, thân xe dạng chữ V thay vì một bề mặt phẳng như xe thường. Hình dạng này cho phép sức ép của vụ nổ bị đẩy sang 2 bên và hướng ra khỏi chiếc xe. Ngoài ra xe có thiết kế dạng module sao cho khi nổ, phần động cơ, trục truyền động dễ dàng bị thổi bay đi, nhờ đó phân tán lực của vụ nổ và giữ cho module hành khách an toàn. Khi mới xuất hiện tại một hội chợ quốc phòng, các kỹ sư Nam phi đã đích thân ngồi trong 1 chiếc MRAP và lái vào một bãi mìn. Xe bị phá hủy nhưng các kỹ sư bước ra ngoài không hề hấn gì.
MRAP ở Iraq thường gôm 2 loại là Buffalo như của Bonecrusher và Cougar, nhỏ hơn. Ban đầu chúng chỉ được trang bị cho những đơn vị EOD (đội xử lý vật liệu nổ) chuyên tháo gỡ các IED. Nhưng sau đó được trang bị cho mọi đơn vị thay thế cho các phương tiện cơ giới thường. MRAP góp một phần rất lớn vào thành công chung của chiến dịch Sóng cồn (Operation Surge) bình định Iraq bằng việc tăng đáng kể khả năng sống sót của binh lính khi gặp IED. Tuy vậy, MRAP có nhược điểm là nặng nề, cồng kềnh, và dễ lật do có gầm xe cao và do đó khả năng vượt địa hình kém. Thực tế chứng minh nó hợp với chiến trường Iraq hơn là Afghanistan vì hệ thống đường xá ở Afgha kém hơn nhiều so với Iraq, do đó một loại mini-MRAP mới được phát triển với khả năng vượt địa hình tốt hơn.
Một Decepticon khác là Brawl hay Devastator, trong hình dạng 1 chiếc xe tăng. Trong phim thì loại xe tăng này thực tế là sản phẩm của trí tưởng tượng chứ không phải mô phỏng một loại tăng thật trong thực tế. Nó gần như là sự kết hợp giữa M1 Abram và Leopard. Đoàn làm phim chế tạo nó từ khung gầm của 1 chiếc xe tải, sử dụng động cơ diesel và xích cao su của xe công trường. Do đó nó rất nhẹ so với một chiếc xe tăng thật. Trong phim có đoạn Brawl cán lên xe hơi trong Mission City, ta có thể thấy chiếc xe hơi bị hư hại rất ít trong khi chiếc xe tăng bị nâng lên rất cao. So sánh với một bức ảnh thực tế khi một chiếc tăng thật cán ngang 1 chiếc xe hơi, ta có thể thấy sự khác biệt rất rõ về trọng lượng.
Starcream có lẽ là một trong những Decepticon được hâm mộ nhất vì nó trong hình dạng của 1 chiếc F-22, chiến đấu cơ thế hệ 5 duy nhất hiện nay. Trong hình dạng máy bay, Starcream có vài cảnh cận chiến với các F-22 khác, sử dụng súng máy 6 nòng xoay 20mm M61A2 vào cuối của phần 1. Tuy nhiên, cảnh lí thú nhất là ở đầu trận chiến quyết định ở phần 2. Khi đó đội NEST dưới sự chỉ huy của thiếu tá Lennox vừa nhảy dù xuống Ai cập cùng với xác của Optimus Prime. Starcream phát hiện vị trí của họ và ngay lập tức Lennox và đồng đội nhận thấy rằng tất cả hệ thống liên lạc của họ đều bị Starcream làm cho tê liệt bằng EMP, tức xung điện từ, một loại vũ khí thường được nhắc tới trong truyện giả tưởng chứ chưa hề được sử dụng trong thực tế và cũng chưa có nước nào chính thức xác nhận việc mình có vũ khí đó, tất nhiên là không tính EMP gây ra do một vụ nổ hạt nhân. Tuy vậy, tình tiết này trong phim không hoàn toàn là sản phẩm của tưởng tượng, vì mặc dù bộ quốc phòng Mỹ không chính thức xác nhận nhưng nhiều chuyên gia tin rằng F-22 có khả năng tác chiến điện tử tương tự như cảnh trong phim. Đó là nhờ vào radar quét điện tử chủ động (AESA) của mình. AESA là công nghệ radar hiện đại nhất hiện nay, có thể được mô tả như là tập hợp của hàng ngàn radar nhỏ, hoạt động độc lập với nhau. Do đó nó có thể tập trung sóng radar thành 1 tia siêu hẹp với tốc độ quét cực nhanh. Khả năng tập trung năng lượng đó cho phép nó gây nhiễu thậm chí là làm mù các thiết bị điện tử của đối phương.
Ngay sau cảnh đó, từ cuộc đối thoại trong trung tâm chỉ huy, ta cũng được biết rằng các thiết bị liên lạc của nhóm Lennox sử dụng công nghệ lượng tử (quantum). Vậy quantum là gì? Nền tảng của điện toán cho tới nay dựa vào hệ nhị phân, mà trong đó chỉ có 2 trạng thái bật/tắt, có/không, tương ứng với 1/0, hay còn gọi là bit. 1 quantum bit, hay qubit, có thể cùng lúc vừa là 1, 0, hoặc cả 2. Nếu như 111 trong hệ nhị phân chỉ tương đương với 7 trong hệ thập phân thì 3 qubit có thể chứa cả 8 khả năng (0-7) và bạn có thể thực hiện việc tính toán cùng lúc trên cả 8 khả năng đó. 32 qubit trên lý thuyết tương đương với 2 lũy thừa 32 (4.3 tỷ) tính toán cùng lúc. Công nghệ lượng tử mở ra nhiều ứng dụng chưa từng có. Trong quân sự, một trong những ứng dụng đó là mã hóa và phá mã hóa. Thông tin được mã hóa bằng quantum là gần như không thể phá được. Tuy vậy thì công nghệ này cũng không giúp gì nhiều cho thiếu tá Lennox trước EMP của Starcream.(còn tiếp)




