10.9.09

Bộ đôi đắt giá

F-22 và B-2, chiến đấu cơ và máy bay ném bom hiện đại nhất thế giới hiện nay, bay cùng nhau khi được triển khai tại Guam, Thái Bình Dương.

8.9.09

Chiếc xe tải màu xanh


…trong ảnh nhìn không có gì đặc biệt, nhưng lại là loại xe tải đặc biệt của bộ năng lượng Mỹ chuyên dùng để chở vũ khí và vật liệu hạt nhân. Nó được thiết kế để bảo vệ an toàn số hàng bên trong khi xảy ra tai nạn hoặc hỏa hoạn. Ngoài ra khoang lái cũng được trang bị thích hợp cho các nhân viên bảo vệ theo xe, khi di chuyển sẽ có 1 số xe bảo vệ khác đi kèm.

Kalakov thay cho Kalashnikov

Gần đây, phóng viên tờ Guardian có 1 bài phỏng vấn với 1 tay lái súng ở Afghanistan. Từng chỉ là 1 chủ hiệu bình thường, Hekmat đã gầy dựng 1 gia tài nhờ việc buôn vũ khí từ các nước Trung Á cung cấp cho Taliban. Hekmat cho biết gần đây loại 'hàng' nóng nhất không còn là Ak-47 quen thuộc nữa mà là Ak-74 Kalakov vì khả năng xuyên giáp tốt hơn. Tuy vậy, giá nó cũng cao hơn, 1 khẩu Ak-74 ở Tajikistan có giá 700 dollar có thể lên tới 1250 khi bán lại ở Afghanistan.

Điểm khác biệt lớn nhất là việc Ak-74 sử dụng đạn 5.45mm thay vì 7.62mm của Ak-47. Liên xô phát triển loại đạn này chuyên để chống lại bộ binh Nato, những người luôn mặc giáp bảo vệ. Nó không những có sức xuyên tốt hơn so với loại 7.62mm truyền thống mà độ chính xác cũng tăng lên, vì loại 5.45mm, cũng như loại 5.56mm, thuộc loại đạn cỡ nhỏ với sơ tốc cao hơn so với 7.62, nhờ đó mà đường đạn phẳng hơn, tầm bắn tăng. Ngoài ra vì khối lượng đạn nhỏ, nên sức giật cũng giảm theo.

Những loại đạn cỡ nhỏ như 5.45 hay 5.56 khi đi vào cơ thề người sẽ rất mất ổn định, đi chệch so với hướng ban đầu và do đó tạo ra 1 vết thương rất lớn. Trong LX tham chiến ở Afghanistan (1980-1988), những chiến binh Afghanistan gọi 5.45 là đạn chứa thuốc độc vì sức tàn phá quá lớn so với kích thước nhỏ của chúng.

5.45 có 1 lõi thép mềm và phần đầu bằng chì. Phần vỏ đạn bằng đồng có 1 khoảng trống ở phần đầu. Khoảng trống này có 1 vài công dụng. Thứ nhất nó giúp chuyển trọng tâm của viên đạn ra phía sau, tăng sức 'nảy' của viên đạn khi đi qua cơ thể người. Nó cũng giúp làm giảm trọng lượng và do đó tăng vận tốc viên đạn. Cuối cùng, khi đi vào các mục tiêu mềm như các mô của cơ thể, khoảng trống sẽ vỡ ra và làm rộng thêm vết thương. Và cũng vì vậy mà có một số ý kiến cho rằng loại đạn này vi phạm các công ước chiến tranh, do chúng cấm việc quân đội sử dụng loại đạn rỗng trong chiến tranh.

Nó được cải tiến 1 lần vào 1987 với lõi thép cứng hơn, và thêm 1 lần nữa vào 1992. So với 7.62 của Ak-47, 5.45 có khả năng xuyên giáp mềm (giáp bằng sợi Kevlar) tốt hơn, nhưng không có tác dụng nếu có giáp cứng (bằng ceramic) được bổ sung. So với đạn cỡ 5.56 tiêu chuẩn của Nato, 5.45 ít có xu hướng vỡ vụn ra khi dùng ở cự li gần, còn khả năng nảy trong mục tiêu mềm thì tương đương.

Sự kiện này tăng thêm màu sắc cho cuộc tranh luận gần như vô tận khi so sánh về loại đạn chính mà LX (7.62mm) và Nato (5.56mm) sử dụng, cũng như khi so sánh giữa Ak-47 và M-16. Sự tranh cãi bắt đầu ngay sau khi người Mỹ giới thiệu loại đạn nhỏ 5.56mm trên loại súng trường tự động mới của mình (M-16) trong những năm 60. Và trong gần nửa thế kỷ nay, cuộc tranh cãi đó vẫn tiếp tục và không có dấu hiệu sẽ kết thúc sớm. Nhiều ý kiến cho rằng việc đem vào sử dụng cỡ đạn nhỏ như 5.56mm là 1 sai lầm vì chúng ko đủ sức mạnh để xuyên qua các vật cản dày cũng như hạ gục đối phương ngay lập tức.

Các ưu điểm của đạn 5.56 có thể kể ra gồm: kích thước và trọng lượng giảm, do đó người lính có thể mang gấp đôi cơ số đạn so với loại 7.62. Tầm bắn và độ chính xác cao (lí do tương tự như với 5.45). Ngược lại, khả năng xuyên qua vật cản của 5.56 kém hơn so với 7.62. Một phần chủ yếu vì nó quá nhẹ, ở cự li gần, kết hợp với tốc độ cao, ngay cả khi xuyên qua được, nó vẫn có xu hướng bị vỡ vụn ra và do đó không gây nhiều nguy hiểm cho người nấp sau vật cản. Thế nhưng chính xác thì loại đạn nào hiệu quả hơn trong việc hạ gục đối phương?

Một phương pháp đơn giản và dễ hiểu nhất để so sánh các loại đạn với nhau là quy về năng lượng (động năng) của chúng khi vừa rời nòng súng. 7.62 (loại của LX) có năng lượng tương đương 1890 joules còn 5.56 là 1780 joules. Tương tự, đạn cỡ 12.7 là gần 17000 joules, đạn cỡ 9mm dùng trong súng ngắn và tiểu liên là 583 joules.

Tuy vậy, con số trên không phản ánh toàn bộ vấn đề. Một khía cạnh khác là việc số năng lượng đó được truyền vào mục tiêu như thế nào. Trong chiến đấu, mối quan tâm không chỉ là liệu viên đạn đó gây ra tổn thương như thế nào cho đối phương mà còn là yếu tố thời gian. Nếu đối phương vẫn còn tỉnh táo và đứng vững trong 1 vài giây, thì trong thời gian ngắn ngủi đó, người lính vẫn có thể bị bắn trả. Nếu xét về yếu tố hạ gục đối phương ngay lập tức thì đạn cỡ lớn, cho dù với tốc độ chậm, có ưu thế hơn. Một viên đạn cỡ 7.62 có tiết diện lớn hơn 88% so với 5.56 sẽ truyền nhiều năng lượng cho mục tiêu hơn và hạ gục nó nhanh hơn.

Tuy nhiên 5.56 cũng có ưu thế riêng của mình. Đó là hiệu ứng khi di chuyển với tốc độ cao qua 1 vật liệu mềm như cơ thể người, nó sẽ tạo ra phía sau mình 1 lỗ hổng lớn, có thể tương đương với 1 quả bóng bầu dục. Tốc độ càng cao thì khoảng hổng càng lớn. Ngoài ra, 5.56 được thiết kế để tối đa hóa việc nó mất ổn định khi đi vào cơ thể, làm trầm trọng thêm vết thương. Biểu hiện rõ ràng nhất là lỗ đạn vào và ra của những vết thương gây ra bởi 5.56 có thể nằm ở bất kì vị trí nào. Trong giai đoạn phát triển ban đầu, người ta từng dùng xác heo để kiểm tra mức độ tàn phá của 5.56. Trong đó 1 viên đạn đi vào phần dưới bụng bên phải có thể thoát ra ở dưới vai trái của con vật. Như vậy cho dù 5.56 có thể không hạ gục đối phương ngay lập tức như 7.62, nhưng nạn nhân cũng sẽ chết không lâu sau đó do nội thương quá trầm trọng. Tuy nhiên cũng phải lưu ý rằng nếu cự li quá gần, viên đạn có thể chỉ xuyên thẳng qua mục tiêu, với lỗ vào và ra có kích thước nhỏ, do tốc độ quá lớn của viên đạn, khi đó hiệu quả sẽ khá thấp. Ngoài ra, không phải mọi loại đạn cùng cỡ 5.56 đều như nhau. Ví dụ có loại 5.56 nặng khoảng hơn 4g là loại tiêu chuẩn, ngoài ra còn có loại gần 5kg. Một số lính Mỹ tự bỏ tiền ra mua loại sau vì cho rằng nó hạ gục đối phương nhanh hơn.


Hiện nay có nhiều đề nghị về việc chuyển sang dùng đạn cỡ 6.5 hay 6.8mm, được cho là kết hợp được ưu điểm của cả 5.56 và 7.62. Cuộc tranh luận vẫn tiếp tục và chắc chắn 1 điều là ít nhất trong tương lai gần sẽ không có loại đạn nào hoàn hảo để có thể được tất cả mọi người sử dụng. Nhưng vấn đề chính là trong chiến đấu, kỹ năng người lính vẫn quan trọng hơn nhiều so với loại đạn hay súng nào được sử dụng. Một lính đặc nhiệm với 1 khẩu súng lục vẫn nguy hiểm gấp bội 1 tân binh mang súng trường tự động.

4.9.09

Internet hóa chiến trường (P.1)

Quân đội Mỹ vừa tổ chức cuộc tập trận mang tên Empire Challenge 09. Mục đích chính là tiếp tục kiểm tra và hoàn thiện khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống vũ khí trên chiến trường với nhau. Đồng thời, họ cũng muốn chứng minh và thuyết phục các đồng minh NATO về hiệu quả của việc áp dụng chúng.

Trọng tâm của EC09 là kiểm tra khả năng kết nối, chia sẻ thông tin theo thời gian thực giữa máy bay (cả có người lái và không người lái) của 3 quân chủng hải-lục-không quân với nhau, giống như cách mà Internet hoạt động. Trong quá trình tập trận, 1 máy bay JSTARS của không quân, 1 chiếc E-2 của hải quân đã chia sẻ dữ liệu với các UAV và các đơn vị mặt đất. JSTARS là loại máy bay thám sát mặt đất, nó sử dụng radar quét điện tử để theo dõi và phát hiện các mục tiêu trên bộ trên 1 khu vực rộng lớn trong mọi điều kiện thời tiết, còn E-2 là một máy bay cảnh báo sớm trên không, sử dụng trên tàu sân bay. Năm ngoái, không quân Mỹ cũng từng thử nghiệm việc chia sẻ hình ảnh thu trực tiếp từ các cảm biến trên 1 chiếc AC-130 cho các máy bay khác.

Về cơ bản, mục tiêu lâu chính của khái niệm kết nối chiến trường là xây dựng một hệ thống hoạt động tương tự như mạng Internet hiện nay. Là một mạng phi tập trung, Internet cho phép 1 người dùng bất kỳ có thể chỉ bằng 1 cái click chuột kết nối với 1 máy tính khác ở bất cứ đâu trên thế giới. Và ngược lại, thông tin được 1 người dùng upload lên cũng có thể được tiếp cận bởi hàng triệu người khác từ khắp nơi. Áp dụng khái niệm tương tự trên chiến trường, có nghĩa là mỗi một máy bay, xe tăng, chiến hạm…thậm chí là từng cá nhân người lính, sẽ vừa đóng vai trò thu thập thông tin và chia sẻ nó, đồng thời cũng có thể nhận thông tin được chia sẻ từ những nguồn khác.

Trên thực tế thì khái niệm trên không còn chỉ là lý thuyết mà đã được áp dụng trên thực tế chiến trường trong nhiều hệ thống riêng biệt. Lấy ví dụ như ROVER. Chúng ta có 1 tình huống tiêu biểu, khi một đơn vị bộ binh đang tiếp cận mục tiêu và phía trên có 1 UAV đang hoạt động. Nếu theo cách cổ điển, thì hình ảnh mà UAV thu được sẽ được truyền về trạm điều khiển. Người điều khiển UAV từ đó sẽ cung cấp thông tin, thường chỉ dưới dạng lời nói, về tình hình chiến trường cho cấp chỉ huy của đơn vị bộ binh, để từ đó truyền đạt tới những người lính thông qua radio. Như vậy, mặc dù có UAV hoạt động ngay phía trên mình, người lính chỉ có thể tiếp cận thông tin theo đường vòng. Như vậy vừa mất thời gian, đồng thời chất lượng thông tin cũng suy giảm nhiều, do từ chỗ là hình ảnh trực tiếp đã trở thành những thông tin dạng lời nói qua radio. Đó là chưa kể nếu người lính trên thực địa muốn có một yêu cầu nào đó cho UAV, như lượn vòng quanh 1 điểm cụ thể, thì cũng sẽ phải thông qua nhiều cấp chỉ huy và hệ thống liên lạc khác nhau. Nhưng với ROVER, người lính sẽ được tiếp cận trực tiếp với hình ảnh từ UAV theo thời gian thực, và hơn nữa, cho cho phép việc thông tin 2 chiều, nghĩa là người lính cũng có thể thông qua ROVER để ra mệnh lệnh cho UAV. Một ví dụ khác là hệ thống BTF…Tuy vậy, cho đến nay, chúng mới dừng ở mức các hệ thống đơn lẻ. Tham vọng được đặt ra là 1 hệ thống chung duy nhất sử dụng cho tất cả các loại vũ khí trên chiến trường.

Ba năm trước, một cuộc thử nghiệm đã thành công trong việc kết nối 1 trực thăng Blackhawk của lục quân, 1 chiếc F-18 của hải quân và 1 chiếc F-15 của không quân, cùng 1 trạm mặt đất chung trong 1 mạng không dây kỹ thuật số. Những cuộc thử nghiệm tiếp theo tăng số lượng các hệ thống trong mạng, và cũng thử nghiệm việc phương tiện (máy bay, bộ binh…) phát hiện mục tiêu và 1 phương tiện khác khai hỏa.

Xương sống của công nghệ này là định dạng Link 16 của không lực Mỹ, dùng để truyền dữ liệu số qua các mạng không dây. Link 16 hiện đã trở nên rất phổ biến trong các nước NATO, một thuận lợi trong việc phổ biến công nghệ mới mẻ này.

Cho đến nay, người ta hầu như đã hoàn thiện cơ chế hoạt động của công nghệ này. Vấn đề còn lại chỉ là đảm bảo rằng nó sẽ hoạt động tốt trong môi trường khắc nghiệt của chiến tranh. Một công nghệ dù có tiên tiến đến đâu, nhưng nếu thiếu độ tin cậy thì cũng trở nên vô dụng.

Link 16 còn cho phép 1 ứng dụng quan trọng khác, đó là tổng hợp thông tin. Nghĩa là thông tin từ nhiều nguồn khác nhau sẽ được 'trộn' với nhau và trình bày cho các sĩ quan chỉ huy dưới dạng 1 nguồn thông tin thống nhất và dễ hiểu. Trước kia, việc phối hợp thông tin như vậy thường ở dưới dạng lời nói, vừa không đầy đủ, vừa dễ gây nhầm lẫn.


Thực tế thì khái niệm và lợi ích của việc kết nối, chia sẻ dữ liệu trên chiến trường không phải là điều quá mới mẻ. Ví dụ thành công nhất cho tới nay có lẽ là chiến lược chiến tranh chớp nhoáng của phát xít Đức mà đã làm cả thế giới kinh sợ trong giai đoạn đầu thế chiến thứ 2. Trong đó, sự cơ động của lực lượng thiết giáp đóng vai trò trung tâm, về mặt kỹ thuật thì yếu tố quan trọng nhất không phải nằm ở công nghệ của bản thân những chiếc xe tăng mà chính là việc người Đức đã trang bị radio cho tất cả những chiếc xe tăng của mình, cho phép chúng liên lạc trực tiếp với nhau, một điều mà cho tới khi đó chưa có ai áp dụng.

(Còn tiếp)

Sentry gặp nạn

1 chiếc E-3 Sentry, "đài radar trên không", gặp tai nạn khi hạ cánh hôm 28/8. Đội bay 32 người kịp thời di tản.