2.9.09

Trận chiến trên eo biển Tsushima

Giới thiệu
Trận chiến Tsushima diễn ra ngày 27-28/5/1905 giữa Hạm đội Baltic của Nga dưới quyền đô đốc Zinovi Rozhdestvensky và hạm đội Nhật dưới quyền Đô đốc Togo Heihachiro trên eo biển Triều Tiên. Nó đánh dấu một bước ngoặt về sự thay đổi quyền lực ở khu vực Thái Bình Dương đầu thế kỷ 20.
Căn nguyên sâu xa
Chiến tranh Nga-Nhật nổ ra như là kết quả của sự tranh giành phạm vi ảnh hưởng từ đống tro tàn của đế chế Trung Hoa giữa một cường quốc cũ (Nga) và cường quốc mới (Nhật). Trong cuộc chiến Trung-Nhật (1895-1896) mà chiến thắng thuộc về quân đội hiện đại hơn của Nhật, đã tạo cho đế quốc mặt trời mọc này một chỗ đứng trong châu Á đại lục, với cảng chiến lược Arthur tại Mãn Châu, cùng với Đài loan và một khoản tiền bồi thường lớn.

Nước Nga, sử dụng sức mạnh ngoại giao của mình giữa các cường quốc phương Tây, đã buộc Trung quốc ký một hợp đồng cho thuê, đưa cảng Arthur lại cho Nga. Phong trào Nghĩa hoà Đoàn nổ ra năm 1900 đã tạo điều kiện cho Nga để lại một đơn vị gìn giữ hoà bình ở TQ, và nước Nga đã sử dụng lực lượng đó để chiếm và củng cố cảng Arthur. Căng thẳng vẫn ở mức cao vào năm 1901 mặc dù quá trình đàm phán vẫn tiếp tục, Nhật Bản sắp xếp một hiệp ước với Anh theo đó bảo đảm sự trợ giúp của Anh nếu như có một cường quốc nào khác ngoài Nga liên quan đến vụ việc. Bộ Hải quân Nga đã đánh giá thấp một cách nghiêm trọng quyết tâm của người Nhật và khả năng tiến hành chiến tranh hiện đại của họ. Nhưng thật sự thì con đường dẫn đến chiến thắng của người Nhật đã bắt đầu từ rất lâu trước đó, khi mà họ mở cửa đối với phương Tây.
Phát triển Hải quân
Trong thế kỷ 16, tướng quân mạc phủ Tokugawa, lãnh chúa phong kiến của Nhật, đã tách rời nước Nhật khỏi phần còn lại của thế giới. Trong nhiều thế kỷ, kỹ thuật quân sự tiên tiến nhất ở đây là súng hoả mai. Cùng với sự tiếp xúc với phương Tây, sau khi hạm đội của đô đốc Perry (Mỹ) tới vịnh Tokyo, nước Nhật nhận ra rằng họ phải hiện đại hoá (không như TQ). Đến năm 1867, họ mua một thiết giáp của phe ly khai trong nội chiến Mỹ, chiếc CSS Stonewall, và bắt đầu xây dựng hải quân hiện đại. Năm 1877 đánh dấu sự thất bại của những samurai cũ trong nội chiến. Một triều đại mới, gọi là Meiji (Minh Trị), nắm quyền và ngay lập tức tái xây dựng nền kinh tế Nhật bằng cách cùng lúc công nghiệp hoá và quân sự hoá, với những thành công vang dội. Từ 1894 đến 1905, chi tiêu cho quốc phòng đạt đến 40% ngân sách. Nếu như năm 1880, tổng trọng tải hạm đội của Nhật chỉ là 15000 tấn thì đến năm 1905, con số này là 252000 tấn, cùng một hạm đội đầy kiêu hãnh với 31 tuần dương hạm và thiết giáp hạm hiện đại.
Hạt nhân của hải quân mới chính là sự huấn luyện, mà đã vượt quá mức yêu cầu. Một ví dụ sống động là về đô đốc Isoroku Yamamoto, người đã bị thương trong trận chiến Tsushima, sau này là kiến trúc sư trưởng của vụ tập kích Trân Châu Cảng lịch sử. Khi còn là một học viên trẻ của hải quân Nhật, cả lớp của ông ta đã được yêu cầu phải bơi qua giữa 2 hòn đảo ngoài khơi phía bắc Nhật Bản. Nơi đó đang có một luồng nước lạnh chảy rất xiết, cùng với những bầy cá mập. Nhiều tá học viên đã không thể chạm tới bờ.

Kỹ năng pháo binh và vận động cũng được tập luyện rất thường xuyên như thể họ đang chiến đấu thật. Các pháo thủ tập bắn với đạn thật, các chiến hạm tập di chuyển vận động với vận tốc như trong chiến đấu mà kết quả có thể khiến con tàu bị hỏng, thậm chí mất tàu. Các sĩ quan và thủy thủ luôn được đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu ở mức cao nhất, không có bất cứ sự kém cỏi nào được chấp nhận. Việc giáng chức, hay đuổi khỏi quân đội rất thường xuyên xảy ra, từ các sĩ quan cao cấp cho tới những lính mới.
Chú gấu già nua
Hải quân Nga, hoàn toàn trái ngược, đang ở trong tình trạng suy tàn. Mặc dù nhiều thủy thủ Nga rất có năng lực, Bộ hải quân lại toàn những kẻ thủ cựu, và ngân sách dùng để duy trì hạm đội Nga lại đặc biệt nhỏ. Tuy vậy, nước Nga, vì sức mạnh trên bộ, vẫn được các nước phương Tây vị nể. Nhưng ngày 10/1/1904, nước Nhật đã làm cả thế giới ngạc nhiên khi tuyên chiến với Nga và tấn công cảng Arthur từ biển. Hải quân Nhật nhanh chóng chiếm ưu thế và tiêu diệt hạm đội Thái Bình Dương của Nga trong trận chiến Shantung ngày 10/8/1904. Các chiến dịch trên bộ cũng diễn ra quyết liệt mà đỉnh cao là trận chiến Mukden (hay Shenyang) từ 19/2/-10/3/1905 với sự tham gia của 330.000 quân Nga và 270.000 quân Nhật, được nhiều nhà sử học coi là trận chiến “hiện đại” đầu tiên trong lịch sử. Chiến thắng cuối cùng thuộc về người Nhật.

Yêu cầu cần phải tái thiết lập lại quyền lực trên bộ và trên biển đã dẫn tới việc Hạm đội Baltic được lệnh lên đường sang châu Á ngày 15/10/1904. Hạm đội khi đó được đổi tên là Hải đội Thái Bình Dương số 2. Hạm đội được đặt dưới sự chỉ huy của đô đốc Zinovy Petrvich Rozhestvensky, được tăng thêm bởi một số tuần dương hạm cũ kiểu những năm 1880 dưới quyền đô đốc Nebagatov cùng một số tàu vận tải. Rozhestvensky đã chỉ huy hạm đội của mình thực hiện một kỳ công là đi qua một quãng đường dài hơn 18000 hải lý (hơn 33.300 km) và đến châu Á nhiều tháng sau đó (trong số những nơi mà hạm đội này ghé qua có cảng Cam Ranh ở Việt nam). Đáng tiếc là thất bại thảm hại của hạm đội Nga sau đó đã làm lu mờ kỳ tích trên. Mục tiêu của hạm đội là đến được Vladivostok, cảng duy nhất của Nga trong khu vực. Đô đốc Togo biết điều đó, và ông ra lệnh cho tàu của mình tuần tra trên 3 tuyến đường mà hạm đội Nga có thể đi qua.
Diễn biến trận chiến
Trước khi bước vào cuộc chiến, người Nhật đang có những lợi thế mang tính quyết định: chiến trường gần quê nhà, một lực lượng gọn nhẹ hơn gồm toàn những chiến hạm kiểu mới và đồng bộ về tốc độ và hoả lực, thủy thủ được huấn luyện chu đáo và đang có nhuệ khí rất cao, việc lên kế hoạch và tập luyện kỹ lưỡng cho cả mục tiêu chiến lược và chiến thuật.

Ngày 27/5/1905, đô đốc Togo nói với toàn hạm đội “Vận mệnh của đế chế chúng ta phụ thuộc vào chỉ một trận chiến này, mọi người hãy chiến đấu với tất cả khả năng của mình”.

Hạm đội Nga bị phát hiện khi một đội tuần dương hạm của Nhật tìm ra 2 tàu bệnh viện của họ trong một khu vực đầy sương mù ở eo Tsushima tối ngày 26/5/1905. Chiều ngày 27/5, hai hạm đội giáp mặt nhau. Hạm đội Nga xếp thành đội hình hàng dọc từ Nam-Tây Nam sang Bắc-Đông Bắc, còn hạm đội Nhật là từ Tây sang Đông Bắc. Hạm đội Nga có 45 chiếc, gồm 12 thiết giáp hạm (tàu chủ lực), 8 tuần dương hạm, các khu trục hạm và tàu hỗ trợ khác. Phía Nhật có 4 thiết giáp hạm và một số tuần dương hạm, khu trục hạm. Đô đốc Togo có một quyết định táo bạo cho ra lệnh cho hạm đội của mình di chuyển chặn đầu hạm đội Nga và tập trung hoả lực vào chiếc kỳ hạm của hạm đội Baltic, chiếc Knyaz Suvorov, với đô đốc Rozhestvensky trên boong. Cách vận động táo bạo này làm hạm đội Nga bất ngờ, và chỉ có thể được thực hiện nhờ vào lợi thế tốc độ cũng như thủy thủ đoàn thiện nghệ của hạm đội Nhật.

Kỳ hạm Knyaz Suvorov khai hoả trước tiên, ba phút sau, chiếc kỳ hạm của đô đốc Togo, chiếc Mikasa, đáp trả. Đội hình hai hạm đội giữ một khoảng cách ổn định khoảng 6200m và xối hoả lực vào nhau. Nhịp bắn của quân Nhật rất ấn tượng, ước tính khoảng hơn 2000 phát đạn hạng nặng trong 1 giờ. Hơn nữa, người Nhật sử dụng một loại chất nổ có công thức mới trong đạn của mình, bắn vào những cấu trúc phía trên của tàu Nga và làm bùng lên những đám cháy dữ dội trên bất cứ con tàu nào bị bắn trúng. Mức độ chính xác của hoả lực Nhật làm người Nga phải sững sờ. Một sĩ quan Nga, thuyền trưởng Semenoff, đã viết “Tôi chưa bao giờ chứng kiến hoả lực nào như thế trước đây, tôi thậm chí không bao giờ dám tưởng tượng ra. Đạn dường như đang được rót xuống chúng tôi liên tục, cái này tiếp nối cái kia”. Thêm nữa, những chiến hạm của Nhật có thể đạt tốc độ 16 hải lý/h, trong khi của hạm đội Nga chỉ là 8 hải lý/h, chủ yếu vì phải chờ những chiếc tàu vận tải chậm chạp. Không những thế, người Nhật còn sử dụng một loại vũ khí mới là ngư lôi. Đã có lúc trong trận chiến, 30 khu trục hạm Nhật đồng loạt phóng ra 74 quả ngư lôi, đánh chìm ngay lập tức thiết giáp hạm Sisoy Veliky và 2 tuần dương hạm khác.

Trở lại với diễn biến của trận chiến, trong 40 phút đầu tiên, người Nhật xối mưa đạn xuống 2 thiết giáp hạm Nga là chiếc Knyaz Suvorov (tàu chỉ huy) và Oslyabya. Chiếc Oslyabya bị đánh đắm cùng với thuyền trưởng Vladimir Ber cùng phần lớn thủ thủ đoàn. Đô đốc Rozhestvensky bị thương nặng ở đầu, còn chiếc kỳ hạm của ông cũng bị hư hại nặng, hầu như không thể chỉ huy hạm đội được nữa. Chỉ huy 2 thiết giáp hạm Hoàng đế Alexander III và Borodino, thuyền trưởng Bukhvostov và Serebrenikov, cố gắng trong vô vọng để che chắn cho chiếc kỳ hạm và đưa hạm đội trở lại tuyến đường đến Vladivostok. Chiếc Borodino dẫn những thiết giáp hạm quay trở lại đội hình hàng dọc chính, nơi những tuần dương hạm đang chống cự để bảo vệ những chiếc tàu vận tải.
Bỏ lại chiếc kỳ hạm Knyaz Suvorov đang bốc cháy, chiếc Borodino chạy về phía nam, thuyền phó Makarov thay thế thuyền trưởng Serebrenikov, đang bị thương, chỉ huy tàu. Tuy nhiên, nó cùng những chiếc khác bị quân Nhật chặn lại. Chiếc Borodino và Hoàng đế Alexander III bị đánh chìm ngay trước khi màn đêm buông xuống. Và gần như cùng lúc, kỳ hạm Knyaz Suvorov bắt đầu chìm vì bị ngư lôi Nhật đánh trúng. Chiếc khu trục hạm Buyny do Kolomeitsov chỉ huy vội chạy đến để cứu tư lệnh Rozhestvensky và bộ tham mưu. Những sĩ quan của chiếc Kyaz Suvorov gồm đại uý Nikolay Bogdanov, Vyrbov, và thiếu uý Verner Kursel từ chối rời tàu và đã chịu chung số phận với chiếc kỳ hạm.

Tối hôm đó, từ trên boong chiếc Hoàng đế Nicholas I, chuẩn đô đốc Nebogatov tiếp nhận quyền chỉ huy hạm đội. Togo ra lệnh tạm ngừng bắn và cho những khu trục hạm áp sát và tấn công ở khoảng cách gần. 30 khu trục hạm Nhật phóng ra 74 quả ngư lôi Whitehead và đã đánh chìm thiết giáp hạm Sysoy Veliky cùng với tuần dương hạm Đô đốc Nakhimov và Vladimir Monomakh.

Sang ngày hôm sau, 5 chiếc thiết giáp hạm dưới quyền Nebogatov buộc phải đầu hàng. Chuẩn đô đốc Enkwist cùng 3 tuần dương hạm Oleg, Aurora, Zhemchug chạy về được đến căn cứ hải quân Mỹ ở Manila và bị giam giữ ở đó. Chỉ có khoảng 3 chiến hạm bị hư hỏng nặng của Nga, 1 tuần dương hạm hạng nhẹ và 2 khu trục hạm, là tới được Vladivostok. Đô đốc Rozhestvensky và bộ tham mưu được chuyển từ chiếc Buyny, bị hỏng động cơ, sang chiếc Bedovy, và sau đó bị quân Nhật bắt làm tù binh.

Nói chung, một số chiến hạm Nga đã chiến đấu rất anh dũng, đôi lúc trước nhiều tàu địch. Nhưng trước một đối phương hơn hẳn về mọi mặt thì tinh thần thôi là chưa đủ, chưa kể là tinh thần chiến đấu của toàn hạm đội Nhật cũng rất cao. Tổng kết cuộc chiến đã phản ánh chiến thắng vang dội cho phía Nhật. Hạm đội Nga mất phần lớn số tàu chiến, 4380 người chết, 5917 bị thương, 4000 bị bắt làm tù binh, trong đó có 3 đô đốc. Hạm đội Thái Bình Dương, Baltic, và hạm đội dự bị của họ hầu như không còn tồn tại. Phía Nhật mất 117 người, 583 bị thương, mất 3 tàu phóng lôi.
Ảnh hưởng của trận Tsushima
“Người Nga không quá tệ như cái cách mà họ bị đánh bại, và họ bị thảm bại vì họ đã thờ ơ và không bị đẩy vào thế đường cùng như ở Crimea hay như ở cuộc kháng chiến chống Napoleon, trong khi mỗi binh sĩ và thủy thủ Nhật tin rằng, mà thật sự nó đúng như vậy, rằng vận mệnh dân tộc họ đang lâm nguy và mỗi cố gắng của từng cá nhân có thể quyết định đại cục” (theo tờ New York Sun).
Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt chủ trì hội nghị hoà bình ở Portsmouth, New Hampshire, và một hiệp định được ký ngày 6/11/1905. Nước Nga rút khỏi Mãn Châu, công nhận Triều Tiên là “vùng ảnh hưởng” của Nhật, đồng ý cho Nhật thuê bán đảo Liêu Đông, cho Nhật quyền kiểm soát Tuyến đường sắt Nam Mãn Châu, từ bỏ chủ quyền của đảo Sakhalin nằm về phía nam vĩ tuyến 50, cho Nhật quyền đánh bắt cá.

TT Roosevelt đã nhận ra sự ra đời của một con hổ mới của phương Đông. Ông viết trong một bức thư cá nhân năm 1906: “Trong nhiều năm, người Anh, người Mỹ, người Đức, những người xem nhau như kẻ thù trong nền ngoại thương ở Thái Bình Dương, sẽ phải dè chứng Nhật Bản hơn bất cứ quốc gia nào khác trong quá khứ … Nếu chúng ta cố đối xử với họ như cách ta đối xử với người TQ, và cùng lúc chúng ta không thể giữ cho lực lượng hải quân ở mức cao nhất về trình độ và quy mô, thì chẳng khác nào chúng ta đã tự rước hoạ vào thân”.

Về phản ứng của công chúng Nhật trước hiệp định Portsmouth thì nói chung họ coi đó là một sự phản bội. Lời giáo huấn về fukoken kyohei ( một đất nước giàu có với một quân đội mạnh) và cơ sở cho những suy nghĩ của họ. Họ cảm thấy hiệp ước đã cướp đi những lợi ích chính đáng của họ, nước Nhật đã bị o ép. Và họ cho rằng chính quyền dân sự phải chịu trách nhiệm chính, còn giới quân sự là những anh hùng. Đó là nhân tố dẫn đến việc chính quyền Meiji cuối cùng bị phế truất và một chế độ độc tài quân sự được thiết lập và đã dẫn nước Nhật vào Thế chiến thứ hai.

Nước Nhật giờ đây đã có ưu thế trên biển để hỗ trợ cho những bước đi của nó ở Mãn châu, Triều tiên và nhiều nơi khác. Trong khi đó, trong hơn 3 thập niên tiếp theo, những nước phương Tây phải đối phó với chiến tranh thế giới thứ nhất, cách mạng Nga, sự tái sinh của nước Đức quốc xã, và dần rời xa khu vực châu Á. Còn Yamamoto thì lên chỉ huy hạm đội Nhật, và những bài học từ Tsushima, cảng Arthur đã trở thành triết lý quân sự của ông. Những nền tảng quân sự, chính trị, kinh tế cho một trận chiến mới ở Thái Bình Dương đã được thiết lập mà những diễn viên chính trong đó là nước Nhật và nước Mỹ.

30.8.09

Hải tặc nhắm bắn trực thăng Mỹ



Hỏa lực bắn lên từ Win Far, một con tàu được bọn hải tặc Somali sử dụng như tàu mẹ, nhằm vào 1 chiếc SH-60B của hải quân Mỹ. Chiếc trực thăng thuộc phi đội trực thăng hạng nhẹ chống tàu ngầm hạng sô 49 và đang đậu trên tuần dương hạm USS Chancellorsville.

27.8.09

Mỹ - Công nghệ trong Transformer (P.3)

Lực lượng hỗ trợ cho nhóm của thiếu tá Lennox ở Ai cập được đổ bộ vào, sử dụng tàu đệm hơi LCAC. So với những tàu đổ bộ cổ điển, như loại được dùng ở Normandy, tàu đệm hơi là 1 bước tiến lớn, ko chỉ về tốc độ, sức tải mà quan trọng nhất là sự linh hoạt. Tàu đổ bộ loại cũ chỉ có thể dùng được cho chưa tới 10% chiều dài bờ biển trên thế giới, với tàu đệm hơi, con số này là hơn 70%, nhờ đó mà người ta có nhiều lựa chọn hơn khi lên kế hoạch đổ bộ. LCAC không phải được thiết kế độc lập như một số loại tương tự, ví dụ như Zurb của Nga, vốn có kích thước lớn hơn. Nó được thiết kế để có thể được chứa bên trong các tàu hỗ trợ đổ bộ như Wasp hay San Antonio, và di chuyển binh lính và thiết bị từ tàu mẹ vào bờ biển. Tốc độ tối đa trên 40 hải lý/h và tầm hoạt động trên 200 hải lý. Sức tải tối đa là 75 tấn. Trong phim chỉ có 2 chiếc xuất hiện, và chỉ với 2 chiếc này thì có thể đổ bộ 1 lực lượng hùng hậu như trong phim, khi mà chỉ riêng 1 chiếc xe tăng Abram đã nặng tới 70 tấn.


Jetfire là một trong những nhân vật khác đặc biệt của bộ phim, là một Decepticon nhưng đã chuyển sang phe Autobot. Jetfire tồn tại dưới lốt của 1 chiếc SR-71 Blackbird, một trong những huyền thoại của công nghệ hàng không quân sự. Cho tới nay, nó vẫn là chiếc máy bay nhanh nhất từng trong biên chế chính thức của mọi lực lượng không quân trên thế giới. Những mẫu máy bay nhanh hơn nó đều chỉ ở mức mẫu thử nghiệm. Tiền thân của SR-71 là chiếc A-12, có hình dạng bên ngoài gần giống SR-71. A-12 được đặt hàng để thay thế cho U-2 sau khi chiếc này không còn miễn nhiễm với hệ thống phòng không của LX nữa. Điều đặc biệt nhất về chiếc A-12 có lẽ là sự bí mật tuyệt đối của dự án. Thậm chí ngay cả không lực Mỹ cũng không biết đến sự tồn tại của nó (vì dự án là của CIA chứ không phải của quân đội). Chính vì vậy mà khi những báo cáo từ các máy bay dân sự tình cờ nhìn thấy những 'vật thể bay không xác định' ngay giữa nước Mỹ xuất hiện ngày một nhiều thì có nhiều sĩ quan cao cấp trong không lực Mỹ lo ngại rằng đó có thể là 1 máy bay do thám của LX!

SR-71 được thiết kế như một máy bay do thám chiến lược siêu thanh, với đội bay 2 người. "Vũ khí" chính của nó để vượt qua các hàng rào phòng không tân tiến nhất là tốc độ và trần bay lớn của mình. Các thông số chính: trọng lượng tối đa 77 tấn, tốc độ tối đa 3530km/h, tương đương Mach 3.3 ở độ cao 24km (Mach thay đổi theo độ cao). Trần bay 26km, tầm bay tối đa 4800km, và nó có thể được tiếp nhiên liệu trên không. Không chỉ giữ kỷ lục về tốc độ, SR-71 cũng là máy bay có trần bay lớn nhất được sản xuất hàng loạt và chính thức nằm trong biên chế.


Phần thân và vỏ máy bay làm chủ yếu từ titan và hợp kim titan để chống lại nhiệt độ sinh ra do ma sát với không khí. Nó có khả năng do thám 100,000 dặm vuông trong 1 giờ. Các cảm biến nó có thể mang theo gồm radar ảnh ASARS-1 gắn ở mũi máy bay, có thể thay thế bằng cảm biến quang học góc rộng Litton Itek. Dữ liệu từ ASARS có thể được truyền về trạm mặt đất dể xử lý với tốc độ 274Mbs trong khoảng cách 300 dặm. Nếu ngoài tầm truyền dữ liệu, dữ liệu sẽ được lưu lại trên máy bay. Ngoài ra, 2 bên hông máy bay còn có 2 camera chụp dùng để chụp điểm mục tiêu.


Động cơ J-58 của nó là động cơ phản lực quân sự duy nhất cho tới nay có thể hoạt động liên tục ở chế độ đốt hậu, và ngược với các động cơ phản lực khác, ở tốc độ càng cao thì hiệu suất động cơ lại càng tăng. Điều này có được nhờ thiết kế đặc biệt của động cơ, lai giữa động cơ phản lực thông thường và động cơ ramjet. Nguyên tắc chung của động cơ phản lực là không khí được hút vào trong động cơ, nén lại và (do đó) nóng lên, được đẩy vào buồng đốt nơi nó được trộn với nhiên liệu vào thành hỗn hợp nổ. Sau khi được kích nổ, thể tích và nhiệt độ của hỗn hợp tăng đột ngột và tạo thành luồng phản lực thoát ra ngoài, tuy nhiên trước đó nó sẽ đi qua 1 turbin nữa, nơi mà 1 phần năng lượng được giữ lại để làm quay bộ turbin nén khí ở phần trước của động cơ. Với những động cơ phản lực quân sự thì trước khi thoát ra ngoài, luồng khí phản lực sẽ được trộn với nhiên liệu và đốt một lần nữa (đốt hậu) cho phép máy bay đạt tốc độ siêu âm. Tuy vậy quá trình này rất tốn nhiên liệu và bản thân động cơ cũng chỉ chịu được trong 1 thời gian ngắn trước khi tan chảy. Với động cơ ramjet, không khí được nén lại không phải bằng các cánh quạt và hoàn toàn bằng tốc độ của luồng khí vào kết hợp với hình dạng của cửa hút khí. Do đó nó chỉ thích hợp ổ tốc độ rất cao.


Điểm đặc biệt của J-58 là nó có 6 ống dẫn khí lớn bao bọc quanh lõi động cơ phản lực. Cơ chế hoạt động của nó như sau. Dòng khí vào được nén sơ cấp nhờ vào 2 đầu nén khí có hình dạng chóp nón và chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy ở đầu 2 động cơ của Jetfire. Sau đó không khí được tách ra nhờ vào các van biến thiên. Một phần đi qua các tầng chong chóng nén, như với động cơ thường. Phần còn lại đi qua 6 ống khí đi thẳng đến tầng đốt hậu, giống như một động cơ ramjet. Tốc độ càng cao thì máy bay càng phụ thuộc nhiều vào luồng khí đi thẳng qua 6 ống dẫn. Lí do là vì khi đó, nhiệt độ tạo ra bởi tầng nén đầu tiên là đã đủ mà không cần phải đi qua các các tầng cách quạt nén khí nữa. (Nhiệt độ dòng khí trước khi vào buồng đốt sẽ quyết định hiệu suất mà động cơ có thể lấy được từ nhiên liệu, nhiệt độ càng cao thì càng hiệu quả, tuy nhiên phải tính đến giới hạn chịu đựng của vật liệu).


Do được thiết kế tối ưu cho mức vận tốc cực cao (Mach 3) nên SR-71 hoạt động rất khó khăn ở mức vận tốc thấp. Thậm chí để vượt bức tường âm thanh, nó phải thực hiện động tác bổ nhào. Nhưng sau khi đã đạt tốc độ siêu âm rồi thì không gì có thể cản được nó lao thẳng đến mốc Mach 3 và duy trì ở đó.


Với tốc độ và độ cao như thế, có thể nói SR-71 là máy bay 'bất khả xâm phạm'. Trong suốt thời gian hoạt động của mình, đối phương đã 4000 lần cố gắng ngăn chặn Blackbird, bằng máy bay hoặc tên lửa, nhưng không 1 lần thành công. Đơn giản là ví nó bay quá cao và quá nhanh.


Blackbird được thiết kế bởi Trung tâm Chồn hôi, một trung tâm thiết kế huyền thoại của Lockheed Martin, nơi ra đời của U-2, A-12, F-117A, F-22, F-35. Blackbird có 1 vị trí đặc biệt trong lịch sử công nghệ hàng không không chỉ vì những đặc tính có 1 không 2 của mình mà còn vì nó đánh dấu 1 bước chuyển lớn trong công nghệ đỉnh cao sử dụng trong các 'siêu máy bay'. Trước kia, mục tiêu của các kỹ sư là nhanh hơn, cao hơn, xa hơn. Các máy bay như U-2, SR-71 được thiết kế để vượt qua hàng rào phòng không bằng cách bay rất nhanh, rất cao. Tuy nhiên, sau Blackbird, ưu tiên được chuyển sang công nghệ tàng hình, với F-117A hay B-2. Đối với các chiến đấu cơ thông thường khác, ưu tiên cũng chuyển từ vấn đề sức mạnh của động cơ sang các thiết bị điện tử, đặc biệt là radar. Thực tế thì thế hệ 4 trở đi thì các chiến đấu cơ đều có giới hạn tốc độ tối đa từ Mach 2 - 2.5.

Bản thân Blackbird cũng là máy bay đầu tiên có tích hợp những công nghệ nhằm làm giảm bề mặt phản xạ radar, tuy rằng nó hoàn toàn không phải là 1 máy bay tàng hình. Việc ra đời của vệ tinh do thám đã khiến cho vai trò của những máy bay do thám chiến lược như U-2, SR-71 suy giảm nhiều. Khi vệ tinh Corona, vệ tinh do thám đầu tiên của thế giới, chuyển dữ liệu về (khi đó bằng cách thả cuộn phim trở lại bầu khí quyển và máy bay sẽ phải bắt lấy trước khi nó rơi xuống biển), lượng hình ảnh trong 1 lần còn lớn hơn toàn bộ số hình ảnh mà tất cả các chuyến bay của U-2 thu được. Dù sao thì với những thành tích, kỷ lục mà SR-71 nắm giữ cũng như vai trò bản lề trong công nghệ, nó xứng đáng là 1 tượng đài.


Một trong những công nghệ tương lai xuất hiện trong Transformer là pháo điện từ mà một khu trục hạm dùng để tiêu diệt một Decepticon trên đỉnh kim tự tháp. Hiển nhiên là một vũ khí như vậy không tồn tại trên thực tế, mặc dù hải quân Mỹ đã thử nghiệm thành công 1 nguyên mẫu pháo điện từ với sơ tốc đầu đạn Mach 7 (tương đương trong phim). Cùng với laser, pháo điện từ được xem là tương lai của vũ khí hải quân, được gọi chung là vũ khí năng lượng định hướng, thay cho các vũ khí sử dụng chất nổ thông thường như pháo, tên lửa. Tuy nhiên, một trở ngại lớn cho việc áp dụng trên thực tế là lượng điện năng khổng lồ mà những loại vũ khí này yêu cầu. Các loại chiến hạm hiện nay đều không được thiết kế để có thể một lượng điện năng lớn như vậy. Trong những năm qua, nhu cầu về năng lượng của các chiến hạm đã tăng khá nhiều và hầu như đã tới mức giới hạn. Nguồn gốc của nhu cầu tăng lên này là do sự phát triển của radar, đặc biệt là công nghệ radar quét điện tử. Radar mạnh hơn đồng nghĩa với cần nhiều năng lượng hơn. Ngoài ra, khi radar hiện đại hơn, nghĩa là ta thu được nhiều dữ liệu hơn, nhưng để chuyển dữ liệu từ radar thành thông tin có ích thì ta cũng cần các thiết bị xử lý mạnh tương ứng mới có thể tận dụng được sức mạnh của radar. Ví dụ như những máy tính mạnh hơn, cũng đồng nghĩa với nhiều điện năng tiêu thụ hơn. Do đó, để có thể có nguồn điện cần thiết cho các vũ khí năng lượng, cần có các thiết kế mới, tối ưu hóa năng lượng của tàu.


Một cách tiếp cận là hạt nhân hóa toàn bộ hạm đội. Một cách khác, như trong các thiết kế mới của hải quân Mỹ như khu trục hạm DDG-1000 Zumwalt, là chuyển toàn bộ năng lượng tàu có thể sản sinh ra sang dạng điện năng. Trước kia thì 1 phần lớn năng lượng của tàu sinh ra được chuyển thẳng từ động cơ (turbin phản lực) ra chân vịt dưới dạng năng lượng cơ. Theo các thiết kế mới thì toàn bộ năng lượng sản sinh ra sẽ dưới dạng điện năng và sẽ được phân phối tùy theo nhu cầu trong từng thời điểm.


Khi lực lượng NEST Team bị các Decepticon bao vây ở Ai cập, một trong những loại hỏa lực hỗ trợ mạnh nhất là họ có được là từ 1 chiếc B-1B Lancer thả hàng chục quả bom JDAM. Được thiết kế trong chiến tranh lạnh với vai trò chủ yếu là để phóng tên lửa hành trình mang đầu đạn hạt nhân, B-1B đã chứng tỏ vai trò trong các cuộc chiến quy ước tại Iraq cũng như tại Afghanistan. Chủ yếu nhờ vào sự hoàn thiện của công nghệ tìm mục tiêu và bom thông minh. Mặc dù không hiệu quả, về mặt chi phí, như B-52, B-1B có lợi thế về tốc độ, vì là một máy bay ném bom siêu âm. Do đó, nó có thể có mặt nhanh hơn khi lực lượng trên mặt đất cần hỗ trợ. Ngoài ra, sự xuất hiện của JDAM, bom thông minh dẫn đường bằng vệ tinh, cho phép B-1B có thể hỗ trợ bộ binh một cách hiệu quả và chính xác hơn. Trong quá khứ, khi lực lượng 2 bên giao chiến gần nhau như trong cuộc chiến ở Ai cập thì chắc chắn không ai dám cho máy bay ném bom hạng nặng 'rải thảm' như vậy cả.


Tuy vậy, bom thông minh không phải là vũ khí duy nhất mà B-1B có thể sử dụng. Tại Afghanistan, khi gặp sức kháng cự mạnh của Taliban, bộ binh Mỹ có thể yêu cầu B-1B thực hiện hoạt động 'biểu dương sức mạnh', khi đó nó sẽ bay sát mặt đất với tốc độ siêu âm. Tiếng gầm rít từ 4 động cơ phản lực đốt hậu cỡ lớn cùng với tiếng nổ khi vượt tường âm thanh tạo thành một 'trận bom âm thanh' có thể làm lung lay tinh thần của lực lượng Taliban gần đó. B-1B có thể thực hiện động tác này là vì nó được thiết kế để vượt qua hệ thống phòng không bằng cách bay rất nhanh ở độ cao thấp, bám sát địa hình.


Trên thực tế, đó chỉ là 1 trong rất nhiều lần mà lực lượng trên mặt đất của thiếu tá Lennox phải yêu cầu yểm trợ từ trên không. Trong phần 1 là khi bị bao vây ở Qatar, và tại Mission City, trong phần 2 là tại Ai cập. Trên thực tế, trong những chiến dịch đặc biệt, các lực lượng đặc nhiệm (như NEST Team trong phim) thường sẽ có 1 điều phối viên của không quân đi cùng. Những người này không chỉ đóng vai trò gọi máy bay và chỉ định mục tiêu và còn kiểm soát không lưu, phối hợp hoạt động các mọi máy bay gần đó. Và vì đi theo các đơn vị đặc nhiệm, những người này cũng cần có những tố chất đặc biệt và phải trải qua những đợt kiểm tra cực kỳ khắt khe.


Đầu tiên, những ứng viên trải qua 2 tuần tuyển chọn ban đầu. Sau đó là 15 tuần huấn luyện ở trường kiểm soát không lưu. Tiếp đó là 3 tuần huấn luyện nhảy dù. 3 tuần tiếp theo là về cách tồn tại trong tự nhiên. Cuối cùng là 13 tuần huấn luyện về điều khiển hỏa lực đường không. Nếu vượt qua tất cả, họ có thể cùng đi theo các đơn vị đặc nhiệm của quân đội Mỹ như Delta Force, Mũ nồi xanh, Biệt động, trừ lực lượng SEAL của hải quân. SEAL yêu cầu thêm 12 tháng rèn luyện thể lực. Bắt đầu là 5 tuần huấn luyện thế chất. Tiếp theo là 6 tuần học lặn, thêm 4 tuần rèn luyện nhảy dù. Tiếp đó là 12 tuần huấn luyện về kỹ năng cơ bản của SEAL và 8 tuần hoàn thiện các kỹ năng thực hiện nhiệm vụ.


(Còn tiếp - Phần cuối tập trung vào vũ khí cá nhân)

14.8.09

Mk 48


Ngư lôi hạng nặng Mk 48 chứng tỏ uy lực trong một cuộc tập trận. Cũng như mọi ngư lôi hiện đại khác, nó được thiết kế để phát nổ phía dưới thân tàu thay vì chạm vào thành tàu. Sức nổ sẽ làm gãy sống tàu và 'bẻ' con tàu thành 2 mảnh, bảo đảm chắc chắn sẽ làm chìm nó. Ý tưởng này xuất hiện từ thế chiến thứ 2 và đã từng được sử dụng nhưng chưa bao giờ thành công, vì công nghệ chưa hoàn thiện. Kể từ sau thế chiến kết thúc tới nay, cũng chỉ có 2 lần ngư lôi được sử dụng thực tế, trong xung đột giữa Ấn độ và Pakistan, và trong cuộc chiến Falkland, tuy vậy trong cả 2 lần thì người ta vẫn sử dụng ngư lôi công nghệ cũ còn lại từ thế chiến. Do đó, những cảnh tượng như trên vẫn mới chỉ xuất hiện trong tập trận.

13.8.09

Mỹ - Công nghệ trong Transformer (P.2)

Phần 1

Khẩu đại liên mà Starcream sử dụng là M61A2, 6 nòng, cỡ đạn 20mm. Tốc độ bắn tối đa 7200 viên/phút, thường trong thực tế tốc độ được chỉnh từ 4000 - 6000 viên/phút. Với tốc độ này thì một loạt đạn trong 1 giây là đủ để hạ máy bay đối phương. Dòng M61 có độ tin cậy cao và đã được sử dụng trong hầu như mọi chiến đấu cơ của Mỹ từ hơn nửa thế kỷ qua, gồm F-104, F-105, F-106, F-111, F-4, B-47, B-52, B-58, F-15, F-16, F-22, F-18, F-14.



M61 có một phiên bản 3 nòng, gọi là M197, tốc độ bắn từ 750-1500 phát/phút, thường được trang bị trên trực thăng vũ trang AH-1Z Cobra của thủy quân lục chiến. Nó xuất hiện trong phần 2 của bộ phim, ở đoạn đầu, gắn trên một số xe cơ giới của lực lượng NEST trong chiến dịch ở Thượng Hải.



Blackout cũng được trang bị một đại liên 6 nòng, nhưng nhỏ hơn, là M134, dùng đạn cỡ 7.62mm. M134 có một phiên bản cá nhân, nổi tiếng khi xuất hiện trong Kẻ hủy diệt 2. Trong Transfomer 2, nó được 1 lính NEST sử dụng trong đợt càn ở Thượng hải.




Tuy vậy, uy lực nhất trong những đại liên đa nòng là khẩu GAU-8/A Avenger, bắn đạn cỡ 30mm với nhịp bắn 3900 viên/phút, sơ tốc đầu đạn hơn 1km/s. Nó được trang bị trên máy bay A-10, loại máy bay tấn công mặt đất chuyên dùng để diệt tăng. Không một loại thiết giáp nào có thể chịu được một loạt đạn 30mm dùng đầu đạn uranium nghèo. Trong phần 1 có 2 chiếc A-10 xuất hiện. Chúng là những máy bay đầu tiên được không lực cử tới để hỗ trợ hỏa lực cho nhóm biệt động của thiếu tá Lennox khi họ bị Skorponok tấn công ở Qatar. Trong phần 2, ở cuộc chiến tại Ai cập cũng có 1 đoạn ngắn quay 2 chiếc A-10 bay ngang qua, tuy không có cảnh chiến đấu của chúng.


Trên thực tế thì A-10 có thể được xem như một trường hợp đặc biệt mà trong đó cả chiếc máy bay được thiết kế xoay quanh loại vũ khí chính của nó (GAU-8/A) thay vì ngược lại, mặc dù ngoài khẩu đại liên thì nó còn có thể mang theo nhiều loại vũ khí khác, chủ yếu là tên lửa không đối đất Maverick, với 3 phiên bản điều khiển bằng vô tuyến, hồng ngoại và laser.


Trước kia A-10 chỉ được thiết kế để hoạt động vào ban ngày. Chỉ trong một số ít trường hợp đặc biệt mà A-10 hoạt động vào ban đêm. Đó là khi nó tham gia vào một chiến dịch tìm kiếm và giải cứu phi công lâm nạn trong lãnh thổ đối phương. Đôi khi trong các nhiệm vụ đó A-10 được giao nhiệm vụ hỗ trợ các trực thăng trong việc đối phó với lực lượng trên bộ của đối phương. Nếu vì lí do nào đó nhiệm vụ bị kéo dài cho đến đêm thì A-10 vẫn có thể được yêu cầu ở lại, khi đó phi công sẽ phải 'nhìn' thông qua thiết bị hồng ngoại gắn trên đầu tên lửa Maverick của mình.


Ra đời từ 1976, với nhiệm vụ chính là chặn đứng "làn sóng thép" của lực lượng thiết giáp khối Warsaw trong trường hợp xảy ra chiến tranh giữa khối này và Nato. Và với những chiến tích ở 2 cuộc chiến tranh vùng Vịnh, Kosovo và Afghanistan, A-10 đã chứng tỏ mình là loại máy bay yểm trợ trực tiếp cho lục quân tốt nhất hiện có. Không có tốc độ và khả năng tăng tốc như các chiến đấu cơ, A-10 với đôi cánh dài và thẳng cho phép tạo lực nâng lớn, và cực kỳ linh hoạt khi bay ở tốc độ chậm và thấp, những yếu tố cần thiết cho một máy bay yểm trợ hỏa lực tầm gần (CAS). Nó thường bay quanh trận địa với những vòng ngoặt gấp và thấp, thường chỉ ở độ cao của ngọn cây để săn tìm xe tăng đối phương. Nó được thiết kế để có thể hoạt động từ những đường băng dã chiến. Nó có 11 điểm treo vũ khí, với tổng tải trọng hơn 7 tấn. Tốc độ tối đa 725km/h, tốc độ trung bình 555km/h.


Do hoạt động ở độ cao thấp như vậy nên nguy cơ chính của nó không phải là tên lửa phòng không mà là hỏa lực bắn thẳng của các loại súng pháo phòng không. Do đó, A-10 còn là một trong những máy bay có lớp giáp vững chắc nhất. Xung quanh buồng lái là một lớp titan dày đến 38mm để bảo vệ phi công và các thiết bị điện tử. Nhiên liệu được giữ trong những thùng đặc biệt với một lớp bọt bao quanh, ngăn không cho nhiên liệu bay hơi và tạo thành hỗn hợp nổ trong trường hợp nó bị bắn thủng.


A-10 được thiết kế với những cánh liệng (bề mặt điều khiển) tách hẳn khỏi cánh để tăng độ ổn định khi nó nhắm bắn mục tiêu bằng khẩu đại liên của mình. Nó vẫn có thể bay được với một động cơ bị bắn rời, một cánh lái bị mất hoặc một mảng cánh lớn bị bắn lìa.


Không lực Mỹ từng có kế hoạch ngừng sử dụng A-10, nhưng nó tỏ ra quá hữu dụng, đối với bộ binh thì A-10 chính là loại máy bay mà họ tin tưởng nhất. Do đó, thay vì cho nó về hưu, không quân quyết định nâng cấp nó lên thành A-10C, với những thiết bị định vị và xác định mục tiêu hiện đại nhất, biến nó thành một máy bay tấn công hoạt động cả ngày và đêm, trong mọi điều kiện thời tiết, và sử dụng hầu như mọi loại vũ khí không đối đất hiện đại nhất, gồm cả bom điều khiển bằng vệ tinh JDAM.




Thực ra thì có lẽ chỉ cần A-10 là đủ để giúp xử lý Skorponok mà không cần gọi thêm AC-130. Nhưng nếu vậy thì chúng ta đã không thể xem một trong những cảnh ấn tượng nhất của bộ phim khi AC-130 rải mưa đạn xuống robot Decepticon. Là phiên bản đặc biệt của máy bay vận tải C-130, nó được trang bị một pháo 105mm, một pháo 40mm, cải tiến từ pháo cao xạ, và một đại liên đa nòng 25mm. AC-130 chỉ hoạt động về đêm do hoạt động ở độ cao thấp và tốc độ chậm. Nó cũng là một phương tiện thường được sử dụng để hỗ trợ các nhiệm vụ đặc biệt. Nó bay theo vòng tròn quanh mục tiêu để vũ khí đặt bên hông nhả đạn. Trong các phiên bản mới, việc kết hợp giữa cảm biến hồng ngoại và thiết bị ngắm bắn điện tử cho phép sĩ quan điều khiển chọn mục tiêu chỉ bằng cách 'click' chọn nó và hỏa lực sẽ được tự động duy trì vào mục tiêu. Ngoài ra, pháo 40mm cũng được thay bằng loại 30mm. Trong phim, nhịp bắn của hỏa lực từ AC-130 rõ ràng cao hơn nhiều so với thực tế, đặc biệt là từ khẩu pháo 105mm.




Hoàn thiện cho bộ ba phương tiện trên không có nhiệm vụ CAS là Apache AH-64, xuất hiện một đoạn ngắn đầu phần 2, trong cuộc vây ráp ở Thượng Hải. Cũng như A-10, AH-64 được thiết kế trong thời kì chiến tranh lạnh với mục đích tìm diệt thiết giáp của khối Warsaw. Nó hoạt động ở độ cao ngang các ngọn cây và bất ngờ vọt lên, tấn công mục tiêu bằng tên lửa Hellfire điều khiển bằng laser. Và cũng như A-10. AH-64 được thiết kế rất vững chắc để có thể chịu được hư hại do hỏa lực từ mặt đất. Động cơ turbin phản lực của nó có thể hoạt động trong 30 phút trong tình trạng khô dầu, và đã được kiểm chứng trong thực tế chiến tranh ở cuộc chiến Vùng Vịnh lần 2. Một điều về Apache mà ít người biết là trong những tình huống bắt buộc, nó cũng có thể đóng vai trò tải thương, cho dù trên trực thăng chỉ có 2 chỗ ngồi cho phi công. Khi đó cáng cứu thương, cùng với y sĩ, sẽ được gắn trên chiếc cánh ngắn bên hông, vốn để gắn vũ khí.


Kể từ khi ra đời đến nay, Apache đã trải qua nhiều đợt cải tiến quan trọng. Đặc biệt là sự ra đời của phiên bản Longbow, với một radar được gắn thêm vào phía trên chong chóng chính, dùng cho việc xác định mục tiêu trên bộ, và kết hợp với Hellfire 2, dẫn bắn bằng radar thay vì laser. Tuy vậy, khi hoạt động ở những nơi có địa hình núi, phải hoạt động ở độ cao lớn, đôi khi radar được tháo bỏ nhằm giảm trọng lượng. Khó nhận thấy hơn là việc tăng khả năng kết nối của nó, cho phép một máy bay phát hiện mục tiêu và một chiếc khác tiêu diệt nó, hay khả năng chia sẻ hình ảnh video thời gian thực giữa nó và các phương tiện khác, cũng như với bộ binh trên thực địa. Thế hệ mới nhất của nó sẽ thậm chí có thể điều khiển một trực thăng không người lái khác làm nhiệm vụ trinh sát, chỉ điểm, hay trực tiếp tiêu diệt mục tiêu mà không cần trực thăng mẹ phải lộ diện.


Không chỉ về kỹ thuật, những thay đổi lớn không kém xuất hiện trong chiến thuật sử dụng chúng. Ban đầu Apache hoạt động theo nhóm lớn, thực hiện những cuộc đột kích lớn vào sau lưng chiến tuyến đối phương theo những kế hoạch định trước vào những mục tiêu cụ thể, chịu sự điều động của cấp chỉ huy trên cao, thường là sư đoàn (Apache được biên chế vào các sư đoàn lục quân). Nhưng hiện nay, tại Iraq và Afghanistan, Apache thường được sử dụng theo nhóm nhỏ, trực tiếp hỗ trợ lực lượng mặt đất bằng cách bay vòng phía trên, và sẵn sàng hỗ trợ hỏa lực khi mặt đất yêu cầu, không phải thông qua cấp chỉ huy ở trên nữa.


Trong phần 2, có rất nhiều cảnh xuất hiện C-17, máy bay vận tải hạng nặng mới nhất của không lực Mỹ, và là phương tiện di chuyển chính của lực lượng NEST. So với những tiền bối thời chiến trang lạnh như C-5, An-124…thì C-17 có sức tải không bằng, nhưng điểm mạnh của nó là nó chỉ cần đường băng dài bằng 1 nửa so với các máy bay thế hệ trước, cho phép nó cất và hạ cánh trên những sân bay dã chiến sát với chiến trường, do đó rất hữu dụng và linh hoạt trong việc tiếp tế cho lực lượng trên bộ. Được ứng dụng những thành tựu mới nhất của ngành hàng không dân dụng, C-17 có độ tin cậy cao hơn nhiều so với các máy bay trước đó. Khi quân đội Mỹ đang phải chiến đấu ở 2 mặt trận và đều cách chính quốc nửa vòng trái đất thì hạm đội hơn 200 chiếc C-17 là một trong những loại phương tiện được sử dụng nhiều nhất. Việc có được 2 chiếc tham gia vào quá trình quay phim chứng tỏ sự ưu ái mà không lực Mỹ dành cho bộ phim này.


Một loại máy bay cỡ lớn nữa xuất hiện trong phim là máy bay tuần tra trên biển P-3 Orion của hải quân, xuất hiện một đoạn ngắn trong đoạn khi Megatron được hồi sinh từ đáy đại dương. Ngoài ra, trong cả 2 tập phim có sự xuất hiện của máy bay cảnh báo sớm và kiểm soát trên không (AWACS) Sentry để phối hợp và điều động các máy bay đến hỗ trợ cho đơn vị của thiếu tá Lennox ở Qatar (phần 1) và Ai cập (phần 2). Được coi như một sở chỉ huy trên không, AWACS tạo ra một cuộc cách mạng trong không chiến, trong tương lai, những mẫu AWACS dùng radar quét bằng cơ dạng xoay như vậy sẽ dần được thay thế bởi những máy bay mang radar quét điện tử, gọn nhẹ và cho tốc độ quét nhanh hơn như Wedgetail. Thật ra quan trọng không kém radar chính là hệ thống điện tử đi kèm và khả năng xử lý lượng dữ liệu mà radar cung cấp để cho ra thông tin hữu ích. Nếu máy tính mang theo trên máy bay không đủ sức, nó sẽ phải truyền 1 phần dữ liệu về lại mặt đất để xử lý. Ví dụ như trường hợp của A-50 Mainstay, AWACS của LX ra đời sau Sentry. Do đó khi Ấn độ quyết định mua cho mình 1 hệ thống AWACS riêng, họ chỉ sử dụng phần máy bay của A-50, là chiếc IL-76 và gắn vào đó hệ thống radar và thiết bị xử lý đi kèm Phalcon của Israel.





(Còn tiếp)