18.1.10

Tăng cường hỏa lực của IFV


Lục quân Anh đang thực hiện một chương trình nâng cấp lớn đối với 440 xe bọc thép chiến đấu chở bộ binh (IFV) Warrior của mình. Bao gồm việc nâng cấp tháp pháo, cảm biến, thiết bị thông tin liên lạc, bảo vệ…Đặc biệt là việc sử dụng loại đại liên 40mm mới, CT40. Điểm nổi bật nhất của CT40 là việc nó dùng loại đạn hộp thay cho loại đạn truyền thống. Đạn hộp có hình dáng bên ngoài giống như một lon bia. Đầu đạn của nó nằm hoàn toàn bên trong vỏ đạn, được bao quanh bởi thuốc phóng, thay vì đầu đạn nằm riêng biệt ở phần trước còn thuốc phóng ở nửa sau như với các loại truyền thống. Thiết kế này cho phép giảm không gian chiếm dụng của đạn. Trước kia, Warrior sử dụng đạn 30mm, tới tầm bắn hiệu quả khoảng 1500m, còn CT40 có tầm gấp đôi, cộng với sức sát thương mạnh hơn.


CT40 là một hệ thống hoàn chỉnh gồm đạn và súng, với thiết kế mang tính cách tân. Đối với súng, điểm khác biệt nổi bật nhất là cơ chế nạp đạn, nhằm phù hợp với loại đạn hộp. Trung tâm của cơ chế này là việc sử dụng khóa nòng xoay. Theo đó, bộ phận nạp đạn nằm vuông góc với nòng súng, khi nạp đạn, khóa nòng sẽ xoay ngang, đạn được đẩy vào khóa nòng. Sau đó, khóa nòng sẽ xoay 90 độ và nằm dọc theo trục của nòng súng, đạn được khai hỏa, phóng đầu đạn đi. Sau đó, khóa nòng lại xoay ngang, viên đạn tiếp theo được đẩy vào, đồng thời vỏ đạn cũ cũng sẽ bị đạn mới đẩy ra ngoài.

 
Vỏ đạn rỗng CT40 đang được đẩy ra ngoài qua một lỗ nhỏ bên cạnh tháp pháo

Một trong những lợi điểm chính của cơ chế này là giảm được chiều dài của súng tính từ trục xoay trở về phía sau, do cơ chế nạp đạn giờ đây nằm vuông góc với súng. Việc này sẽ giúp làm giảm phần không gian bị chiếm dụng phía trong xe. Bởi vì khi súng thay đổi góc nâng và xoay quanh trục, thì phần chiều dài nằm phía sau trục xoay sẽ di chuyển bên trong phần không gian của xe. Phần này càng dài thì càng chiếm dụng nhiều không gian và do đó giảm số lính có thể đi theo. Ngoài ra cơ chế này cũng có độ tin cậy cao hơn do vị trí tương đối giữa cơ chế nạp đạn và khóa nòng là không đổi bất kể góc xoay hay góc nâng của nòng súng. Tuy vậy, thiết kế này cũng có nhược điểm là cần nhiều năng lượng hơn để chỉnh góc nâng của súng, nòng súng chịu nhiều hao mòn hơn, và chi phí cho loại đạn hộp cũng lớn hơn.



Còn đối với đạn, loại đạn hộp của CT40 tăng hiệu quả sử dụng không gian lên 30% so với đạn cùng cỡ với thiết kế truyền thống, do nó có chiều dài ngắn hơn đáng kể. Đạn hộp CT40 có 2 loại chính, với 4 mục đích khác nhau. Loại thứ nhất là đạn xuyên thép động năng, dùng để tấn công các loại xe thiết giáp khác. Loại thứ 2 là đạn đa dụng, dùng để chống lại các công trình, phương tiện không bọc thép, bộ binh và mục tiêu trên không.

Loại đạn xuyên thép sử dụng một đầu xuyên bằng hợp kim tungsten và dựa vào động năng, có thể xuyên thủng lớp giáp của các IFV khác và một số phần của các xe tăng chủ lực thế hệ cũ. Sức xuyên của nó được cho là gấp đôi loại đạn 30mm cũ.




Loại đạn đa dụng sử dụng kíp nổ khả biến, có thể tùy chọn 2 chế độ: chạm nổ dùng để chống công trình hoặc nổ trên không nhằm tăng tầm sát thương.



Nói chung, hỏa lực trên IFV, hay các loại xe thiết giáp chiến đấu khác, được dùng cho 2 mục đích chính: tiêu diệt các mục tiêu cùng loại, và đối phó với loại xe cơ giới thông thường, công trình, vật cản, bộ binh. Và xu hướng phát triển chung là việc sử dụng súng có cỡ nòng ngày càng lớn.

Trong quá khứ, phổ biến là cỡ đạn 20 x 139mm, dùng trên súng Rheinmetall Rh 202. Tuy nhiên loại này đã không còn được sử dụng từ khá lâu. Thay vào đó là cỡ 25x137mm, chủ yếu dùng cho súng ATK M242 Bushmaster, như loại được trang bị cho IFV M-2 Bradley. Hiện nay, cỡ nòng 30mm được coi là tiêu chuẩn. Ví dụ như loại súng cũ của Warrior, mà sẽ được thay thế bằng CT40, là Rarden L21A2, dùng đạn 30 x 170mm, hay như súng trên BMP của Nga (30x165).

 


Tiếp tục phát triển lên, ta có đạn cỡ 35x228 của Oerlikon dùng trên IFV Type 89 của Nhật. Hà lan và Đan mạch cũng sử dụng loại đạn này cho IFV CV0935 của mình. Quân đội Thụy Điển, sử dụng CV9040, dùng đạn 40x364R, và súng Bofors L70 (L70 nghĩa là chiều dài của nòng súng, tính từ khóa nòng đến đầu nòng = 70x40mm). Loại đạn này cũng được sử dụng trên loại IFV mới của Hàn quốc. Trong những năm 70, Đức thậm chí dự tính dùng đạn cỡ 57mm cho IFV Marder cũng mình, nhưng không thành công.

Ý và Israel cũng từng hợp tác chế tạo súng cỡ 60mm cho IFV, nhưng cũng không thành công. Hợp đồng duy nhất cho tới nay là cho Chile, nhưng là để nâng cấp một số xe tăng cũ của mình. Hiện nay cỡ đạn lớn nhất cho IFV là loại dùng cho tháp pháo AU-220 của Nga, dùng đạn cỡ 57x347. Ban đầu nó được dùng trên xe tăng lội nước PT-76, nhưng cũng được cho là có thể trang bị trên các loại xe thiết giáp chiến đấu khác.

Cho mục đích xuyên thép, các bước phát triển đi từ đạn xuyên thép lõi cứng, cho đến đạn dùng đầu xuyên dạng mũi tên (APDS), và sau đó là đầu xuyên mũi tên có cánh đuôi (APFSDS). Những bước phát triển này cũng tương tự các loại đạn xuyên thép dùng động năng của xe tăng chủ lực, chỉ khác là kích thước nhỏ hơn. Đa số dùng hợp kim tungsten, tuy vậy Mỹ cũng có sử dụng loại đạn từ uranium nghèo cho M2 Bradley.

2 hình bên trái và APDS có và không có vỏ bọc, bên phải là APFSDS

Một trong những động lực chính thúc đẩy việc phát triển liên tục của hỏa lực trên IFV là việc lớp giáp của bản thân loại phương tiện này cũng ngày càng đồ sộ. Vi dụ như M2 Bradley, trong vòng đời của mình có trọng lượng tăng từ 23 đến 30 tấn. Warrior từ 25 lên 32 tấn, CV90 từ 21 tấn của nguyên mẫu thử nghiệm lên 35 tấn, Marder từ 27.5 lên 37.5 và Puma, loại IFV mới của Đức thay cho Marder, nặng tới 43 tấn, gần tương đương với 1 xe tăng chủ lực.

Đối với việc tiêu diệt mục tiêu là các công trình xây dựng, loại đạn được sử dụng là đạn chạm nổ, hoặc nổ chậm, cho phép đầu đạn kích nổ sau khi nó đã bay vào bên trong công trình, nhằm tối đa hóa sức tàn phá. Tuy vậy, trọng tâm phát triển hiện nay là loại đạn nổ trên không, sử dụng kíp nổ định giờ, nhằm tiêu diệt bộ binh nấp sau các vật cản. Ngoài ra, nó còn cho phép gây sát thương trên diện rộng, và cuối cùng là cho phép tấn công các mục tiêu trên không.


Một ngoại lệ hiếm hoi cho xu thế chung này là Nemer, loại IFV mới của Israel. Hiện nay nó chỉ được trang bị một súng máy 12.7mm điều khiển từ xa. Nguyên nhân là do quân đội Israel muốn dùng khối lượng tiết kiệm được từ việc trang bị hỏa lực nhẹ để sử dụng cho việc tăng cường lớp giáp bảo vệ. Ngoài ra, việc không có tháp pháo còn làm tăng không gian bên trong xe cho bộ binh.

Súng trường hải-lục mới của hải quân Nga

Những đơn vị người nhái chiến đấu của hải quân Nga đang bắt đầu được trang bị loại súng trường mới, ADS, dùng cho cả trên cạn và dưới nước, sử dụng loại đạn tiêu chuẩn 5.45 x 39mm của Nga. Nó sẽ thay thế cho súng APS, vốn đã được sử dụng từ 1975. APS có tầm sát thương khi dưới nước là 30m, ở độ sâu 5m. Nó sử dụng đạn cỡ 5.66mm với 1 đầu đạn thép dài, 120mm, có đầu tù (phẳng) để tạo ra một bong bóng khí lớn bao quanh viên đạn khi nó di chuyển trong nước. Đầu đạn có độ dài lớn để tăng độ ổn định, do APS dùng nòng trơn, không có khương tuyến do đó viên đạn không tự xoay quanh trục. Do đó, APS rất không thích hợp cho tác chiến trên cạn, với tầm bắn hiệu quả chỉ 100m. Ngoài ra, do được thiết kế chuyên cho môi trường nước, nên hoạt động trong môi trường không khí, các bộ phận của súng rất nhanh chóng và hao mòn. Do đó, các người nhái phải mang đồng thời 2 loại súng khác nhau.


Do đó, ADS được thiết với khả năng tác chiến cả trên cạn và dưới nước. Để đạt được mục đích cần có những thay đổi của cả đạn và súng. Loại đạn mới, PSP, có kích thước tương tự loại đạn tiêu chuẩn 5.45 x 39mm của AK-74, và cũng có thể được bắn đi từ súng có nòng xẻ rãnh. PSP được cho là có hiệu quả tương đương APS. Đối với súng, nó được thiết kế lại từ A-91. Đây là một loại súng trường tự động sử dụng thiết kế bullpup, tức là đưa các cơ phận và hộp đạn ra phía sau cò súng, do đó giảm được chiều dài của vũ khí. A-91 còn được tích hợp sẵn 1 súng phóng lựu 40mm. Một số bộ phận của nó được thay đổi để phù hợp với điều kiện dưới nước. Nói chung điểm chính yếu của ADS là nó có thể đồng thời sử dụng 2 loại đạn dùng cho dưới nước và trên cạn.

5.1.10

Mua sự yên tâm


Module cứu hộ của SRDRS
 
Module cứu hộ của SRV


Nerpa, chiếc tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Akula II, đã hoàn tất quá trình chạy thử của mình và được hải quân Nga tiếp nhận. Tuy nhiên nó sẽ không ở đó lâu, vì đây là con tàu được chế tạo để cho hải quân Ấn độ thuê. Dự kiến sau 5 tháng nữa thủy thủ đoàn người Ấn sẽ đưa con tàu này về ngôi nhà mới của mình. Những người này đáng lẽ đã sẵn sàng từ 1 năm trước, nhưng một tai nạn chết người đã xảy ra trên chiếc Nerpa trong 1 buổi chạy thử. Một thủy thủ đã vô tình kích hoạt hệ thống dập lửa trên tàu và làm 20 người thiệt mạng, hơn 20 người khác bị thương. Nguyên nhân sâu xa là do lỗi trong thiết kế và chế tạo hệ thống an toàn. Quá trình sửa chữa, cải tạo sau tai nạn tốn 65 triệu dollar.

Một khi đã trong biên chế của hải quân Ấn độ, con tàu sẽ mang tên INS Chakra. Theo hợp đồng cho thuê thì mỗi ngày Ấn độ phải trả cho Nga 178,000 dollar, hợp đồng kéo dài trong 10 năm. Nhờ có nguồn tài chính từ Ấn độ mà Nga mới có thể hoàn thành việc chế tạo ít nhất 2 chiếc Akula, những chiếc này vẫn đang dở dang khi LX tan rã, và do đó không còn kinh phí cấp thêm nữa.

Một mặt khác, Ấn độ cũng đang chuẩn bị cho những tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Họ vừa trả cho Hải quân Mỹ 100,000 dollar để trở thành 1 trong số các quốc gia có thể tiếp cận hệ thống cứu hộ tàu ngầm SRDRS trong vòng 48 tiếng kể từ khi có tai nạn. Đây là một hệ thống theo kiểu module, tổng trọng lượng gần 200 tấn, và có thể được không vận đến bất cứ đâu trên thế giới trong vòng 72 tiếng. Ấn độ trả thêm phí để được bảo đảm thời gian nhanh hơn.

SRDRS có thể hoạt động trên hầu hết mọi tàu nổi thông thường. Nó gồm 2 bộ phận chính. Thứ nhất là module cứu hộ, là một tàu ngầm nhỏ điều khiển từ xa, nó sẽ tiếp cận với tàu gặp nạn, kết nối vào cửa thoát hiểm và có đủ chỗ cho 16 thủy thủ. Khi trồi lên mặt nước, module cứu hộ sẽ được kết nối với buồng giảm áp để đưa các thủy thủ qua đó và module cứu hộ sẽ tiếp tục quay lại đón những người khác. Buồng giảm áp giúp cơ thể các thủy thủ quen dần với sự thay đổi của áp suất. Ngoài ra còn có những robot lặn và bộ quần áo lặn sâu cho các thợ lặn. Những thiết bị này sẽ đến trước và khảo sát vị trí tai nạn của con tàu trong khi những module hạng nặng kia được triển khai.

Hiện nay Ấn độ có 16 tàu ngầm gồm 10 chiếc Kilo, 2 chiếc thuộc lớp Foxtrot (Nga) và 4 chiếc loại 209 của Đức. Dự kiến đến trước 2012, sẽ có 5 trong số đó phải về hưu vì tuổi thọ cao. 2 năm sau đó, dự kiến sẽ chỉ còn 5 chiếc trong tình trạng tốt. Những chiếc còn lại vẫn phải ra khơi để huấn luyện, và do đó có nguy cơ rất lớn sẽ xảy ra tai nạn. Ngoài hợp đồng thuê Nerpa, Ấn độ cũng đã ký với Pháp một hợp đồng mua 6 chiếc tàu ngầm diesel-điện lớp Scorpene, dự kiến chiếc đầu tiên sẽ gia nhập hạm đội vào 2012 nhưng sẽ phải dời lại 2 năm và chi phí cũng đội lên khá nhiều.

Hai năm trước, Anh, Nauy, và Pháp cũng hoàn tất việc chế tạo Thiết bị cứu hộ tàu ngầm của NATO (NATO SRV). Rất giống với SRDRS, SRV cũng có thể được không vận đến bất cứ đâu trên thế giới, và có thể kết nối với cửa thoát hiểm của đa số tàu ngầm trên thế giới, có thể đặt trên boong của ít nhất 140 loại tàu nổi trên thế giới. Nó có thể chở 15 thủy thủ trong mỗi đợt lặn. Toàn bộ hệ thống đặt trong 11 container chống thấm, có thể đặt trong máy bay vận tải quân sự hay dân sự. Tổng thời gian từ lúc nhận được yêu cầu cho đến khi SRV bắt đầu lặn là trong vòng 72 tiếng. SRV được điều khiển bởi 3 người.


Cả 2 hệ thống của Mỹ và NATO đều có thể được dùng cho bất kì ai có yêu cầu. Mọi hải quân trên thế giới đều được đề nghị chỉnh sửa cửa thoát hiểm trên tàu ngầm của mình nếu muốn để có thể sử dụng thiết bị cứu hộ của Mỹ hoặc NATO khi có tai nạn. Hệ thống của Mỹ đặt tại California, còn  của NATO đặt tại châu Âu. Ấn độ lựa chọn hệ thống của Mỹ mặc dù nó có khoảng cách xa hơn (14,000 km so với 7,200km). Ngoài ra, Ấn độ cũng phải có những chuẩn bị cần thiết khác về hậu cần để có thể triển khai nhanh nhất hệ thống cứu hộ. Họ có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm quý giá từ chiến dịch cứu hộ thủy thủ đoàn 7 người trên 1 tàu ngầm loại nhỏ của Nga vài năm trước. Khi đó, máy bay vận tải chở các thiết bị cứu hộ của hải quân Anh khi đến sân bay Nga đã phải chờ đợi 1 thời gian dài vì ở đó không có sẵn các phương tiện bốc dỡ thiết bị phù hợp. Và khi đến cảng thì đội cứu hộ phát hiện ra rằng ở đó không có loại tàu nổi phù hợp, loại có thể duy trì vị trí của mình trên mặt nước để có thể thả robot xuống hoạt động. Chiến dịch suýt nữa đã phải bị hủy bỏ nếu một sĩ quan Nga không nghĩ ra phương pháp nối 2 đầu của tàu tham gia cứu hộ vào 2 con tàu khác để tăng sự ổn định của nó. Và cả 7 thủy thủ đều đã được cứu sống. Không rõ hải quân VN có ý định tham gia 1 trong 2 chương trình cứu hộ trên sau khi đã nhận 6 chiếc Kilo hay không.

2.1.10

Rủi ro có tính toán

Gần đây trên báo chí xuất hiện một tin giật gân về việc các phiến quân tại Iraq và Afghanistan có thể 'hack' vào tín hiệu của các UAV mà quân đội Mỹ sử dụng tại các chiến trường này. Vậy bản chất của sự việc này là như thế nào?

Tín hiệu mà phiến quân tiếp cận được không phải là tín hiệu dùng để điều khiển UAV mà là tín hiệu hình ảnh từ các camera của chúng truyền xuống hơn 4000 thiết bị ROVER của bộ binh. Đây là những tín hiệu dạng analog (băng tần FM) và không được mã hóa, và do đó việc bắt được tín hiệu này không có gì quá khó khăn. Thực tế thì tất cả những gì các phiến quân phải làm là sử dụng một phần mềm thương mại có tên SkyGrabber, có giá 26 dollar. Tất nhiên, BQP Mỹ hiểu rõ hơn ai hết về việc sử dụng tín hiệu analog không mã hóa sẽ đồng nghĩa với việc trước sau gì cũng có ai đó bắt được tín hiệu này, nhưng tại sao Lầu Năm Góc không mã hóa tín hiệu ngay từ đầu. Đó là vì do họ chấp nhận đánh đổi rủi ro này để đạt được các lợi ích khác.

Các tín hiệu này dùng cho các thiết bị ROVER. Đây là thiết bị cho phép lính bộ binh tiếp cận trực tiếp và theo thời gian thực vào hình ảnh thu được từ các UAV. Sự ra đời của ROVER tạo nên một cuộc cách mạng nhỏ trong cách thức tác chiến của bộ binh và đã tận dụng được sự phổ biến ngày càng nhiều của UAV.

Chúng ta có 1 tình huống tiêu biểu, khi một đơn vị bộ binh đang tiếp cận mục tiêu và phía trên có 1 UAV đang hoạt động. Nếu theo cách cổ điển, thì hình ảnh mà UAV thu được sẽ được truyền về trạm điều khiển. Người điều khiển UAV từ đó sẽ cung cấp thông tin, thường chỉ dưới dạng lời nói, về tình hình chiến trường cho cấp chỉ huy của đơn vị bộ binh, để từ đó truyền đạt tới những người lính thông qua radio. Như vậy, mặc dù có UAV hoạt động ngay phía trên mình, người lính chỉ có thể tiếp cận thông tin theo đường vòng. Như vậy vừa mất thời gian, đồng thời chất lượng thông tin cũng suy giảm nhiều, do từ chỗ là hình ảnh trực tiếp đã trở thành những thông tin dạng lời nói qua radio. Đó là chưa kể nếu người lính trên thực địa muốn có một yêu cầu nào đó cho UAV, như lượn vòng quanh 1 điểm cụ thể, thì cũng sẽ phải thông qua nhiều cấp chỉ huy và hệ thống liên lạc khác nhau. Nhưng với ROVER, người lính sẽ được tiếp cận trực tiếp với hình ảnh từ UAV theo thời gian thực, và hơn nữa, cho cho phép việc thông tin 2 chiều, nghĩa là người lính cũng có thể thông qua ROVER để ra mệnh lệnh cho UAV.

Nếu mã hóa các tín hiệu hình ảnh này, sẽ làm tăng thêm chi phí và trọng lượng của thiết bị, nhưng quan trọng quan trọng hơn hết là sẽ làm tăng băng thông cần thiết. Những yếu tố này sẽ hạn chế sự phổ biến của ROVER mà lục quân đang rất cần. Do đó Lầu Năm Góc đã quyết định không mã hóa và chấp nhận rủi ro rằng phiến quân có thể cũng tiếp cận được tín hiệu hình ảnh này. Tuy vậy, ngay cả khi điều này xảy ra thì thực ra lợi ích của nó cũng không lớn như nhiều người tưởng tượng. Vì tuy thấy được những gì camera của UAV đang quan sát, nhưng không biết được vị trí của chính UAV đó, phiến quân cũng rất khó để có thể nhận ra những hình ảnh chúng đang quan sát là ở đâu. Tuy vậy, để tránh các rắc rối từ phía công chúng, BQP Mỹ đã quyết định rằng từ nay sẽ mã hóa tất cả các tín hiệu này.

Lịch sử của ROVER bắt đầu 7 năm trước, khi một lính đặc nhiệm trở về từ Afghanistan, bước vào Trung tâm hệ thống hàng không tại căn cứ không quân Wright Patternson và hỏi các kỹ sư ở đây rằng tại sao mình và đồng đội không thể có một thiết bị mà có thể tiếp cận trực tiếp vào hình ảnh từ các cảm biến của máy bay có người lái và không người lái đang bay phía trên. Khi đó, hình ảnh từ camera của UAV Predator có thể truyền trực tiếp đến các máy bay vũ trang hạng nặng AC-130, và khi có mục tiêu bị phát hiện thì AC-130 sẽ bay tới đó và tiêu diệt. Lính đặc nhiệm trên bộ cũng muốn có được tín hiệu 'truyền hình trực tiếp' này, thay vì phải liên lạc với bên không quân để lấy thông tin.

Trước yêu cầu đó, các kỹ sư gấp rút vào việc và chỉ sau 2 tuần, bản thử nghiệm ROVER I ra đời. Khi đó nó được đặt trên 1 chiếc Humvee. ROVER II ra đời vài tháng sau, và có kích thước bằng 1 chiếc laptop. Đến cuối 2004, ROVER III xuất hiện, nặng khoảng 5.5kg, nó có thể được đeo vào balô.

ROVER III có giá 60,000 dollar, và có 700 thiết bị được sản xuất. Được sử dụng tại cả Iraq và Afghanistan, nó có thể thu nhận tín hiệu hình ảnh từ mọi UAV cũng như các máy bay ném bom.

ROVER IV ra đời vào 2005, với tính năng mới cho phép người lính bộ binh chỉ thị mục tiêu cần tiêu diệt cho máy bay bằng cách click thẳng trên màn hình. ROVER V, thế hệ mới nhất, có giá 35,000 dollar, có kích thước chỉ bằng 1 PDA. Với ROVER V, người lính giờ đây thậm chí có thể điều khiển camera của các UAV theo ý của mình.


Ban đầu ROVER chủ yếu được trang bị cho các đơn vị đặc nhiệm hoặc các nhân viên điều khiển không lực. Hiện nay với số lượng lớn hơn nhiều, ROVER có thể được trang bị đại trà cho đến cấp trung đội trưởng, đại đội trưởng.

Khinh hạm tàng hình Visby

Sau một thập niên phát triển và thử nghiệm, hải quân Thụy điển vừa chính thức đưa vào hoạt động 2 chiếc đầu tiên thuộc lớp khinh hạm tàng hình lớp Visby, HMS Helsingborg và HMS Härnösand. Đây có thể coi là những chiến hạm thực thụ đầu tiên trên thế giới. Trước đó đã có rất nhiều tàu chiến có thiết kế nhắm tới việc giảm diện tích phản xạ radar, tuy nhiên chưa có thiết kế nào toàn diện như của Visby.

Tàu dài 80m, rộng 11m, tải trọng 650 tấn, với mớn nước khoảng 2.5m. Vỏ tàu làm bằng vật liệt sợi carbon, cùng với các bề mặt được thiết kế để tán xạ sóng radar; Visby rất khó bị radar phát hiệb. Nếu tàu chạy với tốc độ thấp, khoảng 22km/h khi biển êm hay 13km/h khi biển động, thì nó gần như vô hình với radar.

Tàu được trang bị một pháo 57mm, 8 tên lửa diệt hạm RBS-15 có tầm tối đa 70km. Ngư lôi, mìn, khối nổ chống tàu ngầm. Cảm biến bao gồm radar, sonar và cảm biến hình ảnh nhiệt. Thủy thủ đoàn chỉ gồm 43 người. Tốc độ tối đa trong mọi điều kiện thời tiết là 70km/h.

Visby có thể mang theo trực thăng. Nó được trang bị các giàn sonar gắn dọc thân tàu và kéo theo cáp phía sau tàu nhằm săn tìm các tàu ngầm Nga vốn hay hoạt động ngoài khơi Thụy điển. Tàu không sử dụng chân vịt mà dùng bơm thủy phản lực nhằm đạt tốc độ cao mà giảm khả năng bị tàu ngầm phát hiện. Tổng cộng sẽ có 5 chiếc Visby được hải quân Thụy điển đặt hàng.