18.2.10

Chính xác+



Pháo hỏa tiễn là một thành phần quan trọng của hỏa lực pháo binh, trở nên nổi tiếng với uy lực mà những giàn Katioucha của Hồng quân LX giáng xuống quân phát xít Đức trong thế chiến thứ 2. Tuy nhiên, điểm yếu của nó là độ chính xác không cao, trong tác chiến thường được sử dụng với số lượng lớn nhằm tiêu diệt sinh lực, phương tiện đối phương trên một diện tích rộng lớn. Với sự xuất hiện của GMLRS, pháo hỏa tiễn giờ đây có thể đạt được độ chính xác của các loại bom thông minh. Cùng với pháo thông minh như Excalibur, GMLRS đã tạo nên một cuộc cách mạng trong hỏa lực pháo binh. Giờ đây, GMLRS sẽ trở nên hoàn thiện hơn với phiên bản cải tiến GMLRS+.

Tiền thân của GMLRS là MLRS (G là viết tắt của Guided - có điều khiển), loại pháo hỏa tiễn mà lục quân Mỹ phát triển trong thời kì chiến tranh lạnh, mục đích khi đó là tạo ra loại hỏa lực nhằm giúp cân bằng với sự vượt trội về binh lực của phe Warsaw so với Nato ở chiến trường châu Âu. Do đó, nó chủ yếu dùng hỏa tiễn mang đạn chùm để có thể tiêu diệt mục tiêu ở diện tích lớn nhất có thể. Thực tiễn chiến trường trong cuộc chiến chống khủng bố đầu thế kỷ 21 nhấn mạnh sự hiệu quả và tính chính xác, và từ đó ra đời GMLRS, được trang bị công nghệ dẫn đường bằng GPS. Tầm bắn tối thiểu của nó là 15km, và tầm bắn tối đa vừa đạt được là 92km. Thay cho đạn chùm, GMLRS dùng tên lửa M-31 với đầu đạn đơn chứa 89kg chất nổ, nhưng có 3 chế độ sát thương: chạm nổ, nổ chậm (sau khi xuyên qua lớp chắn mục tiêu) và nổ trên không. Trong năm 2009 vừa qua có tổng cộng 1,500 tên lửa được bắn đi từ hệ thống GMLRS. Thông số về độ chính xác của nó không được công bố chính thức, nhưng được cho là vào khoảng 2m quanh mục tiêu. Đối với các giàn pháo hỏa tiễn thông thường, nó có thể phủ chụp toàn bộ một khu vực có bán kính 1km quanh mục tiêu. Trong thực tế chiến trường, GMLRS có thể được sử dụng ngay cả khi đồng đội chỉ cách mục tiêu có 50m. 

Hai thay đổi lớn của GMLRS+ là nâng tầm bắn và thêm vào đầu dẫn laser. Để nâng tầm bắn lên trên 110km (con số chính xác chưa được tiết lộ), nhiều thay đổi lớn được thực hiện với hỏa tiễn, đặc biệt là việc thêm vào 2 cánh rộng trên thân hỏa tiễn. 2 cánh này sẽ gấp lại khi hỏa tiễn được chứa bên trong ống phóng. Ngoài ra, GMLRS+ sẽ sử dụng thêm cơ chế dẫn đường giai đoạn cuối bên cạnh dẫn bằng GPS như trước kia nhằm tăng thêm độ chính xác. Hỏa tiễn của GMLRS+ được trang bị một đầu dò laser bán chủ động, sẽ nhận tia laser phản xạ lại từ mục tiêu. Việc chiếu laser vào mục tiêu được thực hiện bằng phương tiện khác, ví dụ như UAV, trực thăng, chiến đấu cơ hay các bộ chỉ thị mục tiêu của bộ binh trên mặt đất. Ngoài ra, GMLRS+ còn tăng độ linh hoạt và an toàn trong tác chiến. Một loại tên lửa 12 quả được bắn hết trong khoảng 5 giây có thể tấn công một mục tiêu cùng 1 lúc, nhưng từ những hướng khác nhau nhằm làm giảm hiệu quả phản pháo kích do đối phương gặp khó khăn hơn trong việc xác định tọa độ của hỏa lực.

Bổ sung cho radar



Cho tới nay, radar vẫn là loại cảm biến chủ yếu dùng trên tàu chiến. Tuy nhiên, hiện đang có xu hướng dựa nhiều hơn vào các cảm biến thụ động, quang học do chúng không chịu tác động của các phương thức chế áp điện tử. Các thiết bị cảm biến hồng ngoại tầm xa ngày càng gọn nhẹ, rẻ và đáng tin cậy hơn. Chúng có thể bổ sung, thậm chí thay thế các radar cảnh báo tầm trung, và có thể thực hiện nhiều chức năng khác nhau.

Một ví dụ tiêu biểu là hệ thống SASS mà hải quân Ý đang bắt đầu trang bị cho các chiến hạm của mình. SASS có thể được dùng cho nhiều mục đích khác nhau: định hướng, phát hiện và theo dõi các mục tiêu trên biển và trên không tầm xa, phát hiện và phòng thủ tên lửa diệt hạm, và an ninh, bảo vệ tàu trước các cuộc tấn công khủng bố bằng thuyền nhỏ tương tự như vụ tàu USS Cole. Hệ thống cũng có thể phát hiện các mục tiêu trên bộ. 

SASS chính thức được sử dụng trên tàu sân bay Cavour từ 2008, và sẽ được sử dụng trên loại tàu khu trục lớp FREMM mới của liên doanh Ý-Pháp. SASS là một hệ thống gọn nhẹ, gồm 3 thành phần chính. Bộ cảm biến và năng lượng nặng 140kg, bộ điều khiển nặng 160kg và buồng điều khiển 230kg. Hệ thống thu nhận dữ liệu đồng thời từ  2 cảm biến hồng ngoại hoạt động ở 2 bước sóng khác nhau, từ 3-5 micromet và 8-12 micromet. Việc dùng 2 cảm biến khác nhau cho phép tăng độ tin cậy (vẫn có thể hoạt động khi 1 cảm biến hỏng) và giảm ảnh hưởng của thời tiết lên hiệu quả của thiết bị, vì mỗi loại thời tiết có ảnh hưởng khác nhau lên những bước sóng khác nhau.


Hệ thống có thể quét 360 độ theo phương ngang và từ -20 đến 35 độ theo phương thẳng đứng. SASS sử dụng một hệ thống ổn định 5 trục, cho phép giữ ổn định trong mọi điều kiện biển động. Dữ liệu được xử lý tự động, tìm kiếm, phát hiện và định dạng mục tiêu dựa vào các thông tin lưu trữ trong cơ sở dữ liệu và phân tích chuyển động của mục tiêu. SASS có thể theo dõi 100 mục tiêu cùng lúc.

8.2.10

Cuộc chiến (không còn) bí mật

Hôm 3/2 vừa qua, 3 lính Mỹ thiệt mạng do một quả bom tự tạo của Taliban tại Pakistan. Vụ việc là một sự khẳng định về sự hiện diện sâu rộng của quân đội Mỹ tại Pakistan, điều mà chính phủ cả 2 nước đều ra sức phủ nhận trong quá khứ.

Cho tới gần đây, sự hiện diện của Mỹ tại Pakistan chủ yếu được biết đến chỉ gồm các máy bay không người lái tấn công vào các thủ lĩnh Taliban và Al Qaeda, mà quy mô ngày càng lớn. Ví dụ như cuộc tấn công mới nhất sử dụng đến 17 tên lửa, tiêu diệt 29 mục tiêu. Cuộc tấn công cũng được xem như là sự trả đũa của CIA sau khi 7 đặc vụ của họ bị thiệt mạng do một kẻ đánh bom liều chết vốn là 1 điệp viên 3 mang.

Tuy nhiên sau vụ tấn công gây thương vong trên, người ta được tiết lộ rằng quân đội Mỹ có khoảng 200 lính trên bộ tại Pakistan. Và kể từ sau 11/9, đã có 12 người thiệt mạng. Những người này thường được đề cập đến như là lực lượng đặc biệt hoặc lính 'dân vận'.


3 người thiệt mạng trong cuộc tấn công kể trên gồm một thượng sĩ tâm lý chiến, 1 trung sĩ công binh và 1 trung sĩ thông tin. Lực lượng Mỹ khi đó đang tham dự một buổi lễ khánh thành 1 trường nữ sinh vừa được sửa chữa lại với sự hỗ trợ của Mỹ. Quả bom phát nổ còn làm 131 người khác bị thương, đa số là các học sinh của ngôi trường.

Máy bay đi trên xe tải

Gần đây, quan hệ giữa Mỹ và TQ trở nên xấu đi nhiều sau khi Mỹ đồng ý bán cho Đài loan một số lượng lớn các loại vũ khí khác nhau. Trong số đó có 12 máy bay tuần tra, trinh sát hàng hải tầm xa P-3. Tuy nhiên vấn đề là loại máy bay này đã từ lâu không còn được sản xuất nữa. Do đó, người ta phải tận dụng 12 máy bay cũ đang được cất giữ và đại tu lại. Đây là những máy bay đã được đưa ra khỏi biên chế trước kia, khi đó chúng sẽ được đưa đến các khu lưu giữ phòng trường hợp khi có chiến tranh nổ ra thì có thể đem ra tái sử dụng. Sau một thời gian nhất định thì chúng sẽ được tháo dỡ.

Số P-3 này đang đậu tại một khu vực lưu giữ như vậy của hải quân Mỹ ở bang Arizona. Còn nhà máy nơi chúng sẽ được đại tu cách đó 2000 dặm, tại bang Nam Carolina. Những máy bay này đã quá cũ để đủ tiêu chuẩn bay được. Do đó người ta quyết định tách rời chúng ra từng phần và chở đi bằng 9 chiếc xe tải cỡ lớn.

Sắp tới, P-3 sẽ dần được thay thế bởi P-8.

4.2.10

Vấn đề che giấu động cơ của T-50


Trở lại với  T-50. Dưới đây là một số những phỏng đoán về vị trí và kích thước của các khoang vũ khí kín. Vũ khí treo dưới cánh là một nguồn phản xạ radar lớn cần phải được loại trừ, do đó các máy bay tàng hình đều cần có các khoang chứa vũ khí kín đặt bên trong thân máy bay. Xin lưu ý lần nữa là các con số và hình ảnh này đều là phỏng đoán và không phải là thông tin chính thức.


Theo đó, T-50 có 2 khoang vũ khí chính nằm giữa 2 khoang động cơ, có thể chứa khoảng 4 tên lửa không đối không tầm xa, và 2 khoang vũ khí phụ nằm ở 2 chi tiết dạng hình nêm ở rìa phần mở rộng của gốc cánh dùng cho các tên lửa tầm gần. 

So sánh với F-22, một điều đáng chú ý là cửa khoang vũ khí của T-50 không có dạng răng cưa, có thể sẽ làm tăng diện tích phản xạ radar đáng kể khi mở cửa khoang.



Một vấn đề lớn khi xét đến khả năng tàng hình của máy bay là khả năng 'giấu' đi bề mặt động cơ phản lực. Một trong những nguồn gốc chính của việc các máy bay thuộc thế hệ thứ 4 có diện tích phản xạ radar lên đến 2 con số (như F-15, Su-27) là do các động cơ nằm trực diện với các cửa hút gió lớn. Để ngăn chặn sóng radar phản xạ vào bề mặt kim loại của động cơ, có 2 phương pháp chính là dùng một bộ chặn radar đặt ở cửa hút gió, hoặc thiết kế ống dẫn không khí (từ cửa hút gió tới động cơ) dạng cong sao cho từ cửa hút gió không thể nhìn thấy động cơ. Hoặc có thể kết hợp cả 2 cách trên. 

SR-71, F-117A, X-32 (mẫu đã cạnh tranh và thất bại trước mẫu X-35 mà sau này thành F-35), F-18E/F Super Hornet tiêu biểu cho việc sử dụng bộ chặn radar đặt ở cửa hút gió. Bộ chặn của F-117A gồm một tấm che dạng lưới bao phủ toàn bộ bề mặt của cửa hút gió. Khi được kết hợp với các bề mặt phẳng của thân máy bay, sẽ tạo thành một bề mặt dẫn điện đồng nhất cho phép sóng radar 'chảy' quanh bề mặt máy bay và thoát ra phía sau. Thiết bị chặn của X-32 được thiết kế thành 1 phần của bề mặt động cơ, còn của F-18E/F là một bộ phận tách rời đặt trước động cơ, và có kết hợp với ống dẫn khí hơi cong. 

Nhược điểm của việc dùng bộ chặn là nó ảnh hưởng đến dòng không khí vào động cơ và do đó làm giảm hiệu năng của động cơ. Nó cũng tốn kém trong việc chế tạo, bảo trì. Và nếu vì một lí do nào đó như va chạm với chim chóc, đất đá trong quá trình cất hạ cánh, và thiết bị hư hỏng, cũng có thể làm giảm đáng kể tính năng tàng hình. Ngoài ra, nó cũng chỉ được dùng khi không thể che giấu toàn bộ động cơ. 

Cách triệt để hơn là thiết kế ống dẫn không khí dạng cong sao cho toàn bộ động cơ được che kín từ bên ngoài. Ví dụ tiêu biểu nhất là F-22. Khi nhìn vào hình chụp phần bụng máy bay, ta có thể thấy động cơ và cửa hút gió dường như thẳng hàng với nhau.


Tuy nhiên khi nhìn kỹ vào bên trong cửa hút gió, có thể thấy rõ ống dẫn khí cong hẳn vào phía trong (đồng thời nó cũng nhường chỗ cho khoang vũ khí phụ mà ta cũng có thể thấy rõ trong hình). Sau đó ống dẫn khí sẽ cong lại ra ngoài và nối vào động cơ. 


Hình dạng của ống dẫn khí trong F-22 sẽ tương tự như hình sau


F-22 có thể áp dụng cách này là do, như đã trình bày ở bài trước, nó có một thiết kế hoàn toàn hợp nhất giữa thân, cánh, phần diện tích mở rộng…do đó có đủ không gian bên trong để gắn ống dẫn cong (theo chiều ngang). Một ví dụ khác là YF-23, như trong hình dưới (so sánh với T-50 phía trên). YF-23 giấu động cơ theo chiều dọc (Typhoon cũng áp dụng cách này). Có thể thấy rõ trong khi cửa hút gió nằm dưới cách thì toàn bộ động cơ nằm phía bên trên.



Bản thân T-50 do vẫn dựa vào thiết kế của Su-27, với 2 khoang động cơ tách biệt và gắn dướ cánh thay vì hợp nhất với thân, do đó không có đủ không gian để thực hiện việc giấu theo chiều ngang như F-22. Động cơ của nó cũng không đặt đủ cao (ít nhất 1 nửa nằm bên dưới cánh cùng với cửa hút gió) để che theo chiều dọc. Có lẽ vẫn còn 1 phần diện tích bề mặt động cơ sẽ đối diện với cửa hút gió. Khi đó Sukhoi sẽ phải sử dụng bộ chặn sóng radar.