1 chiếc Blackhawk thực hiện kỹ thuật đáp trên 2 bánh tại Kandahar, Afghanistan.
4.9.09
2.9.09
Khi người Nga mua tàu Pháp
Cuối cùng thì sau khá nhiều lời đồn đoán, Nga đã chính thức xác nhận việc họ đang đàm phán để mua một chiếc tàu hỗ trợ đổ bộ lớp Mistral, với giá từ 300-400 triệu euro, và sau đó có thể ký tiếp hợp đồng mua quyền đóng 3-4 chiếc cùng loại tại Nga.
Bản thân hải quân hải quân Pháp đã nhận 2 chiếc cùng loại, tên là Mistral và Tonnerre, vào 2006 và 2007. Nói chung họ rất hài lòng với chất lượng của loại tàu mới này. Dài 200m, lượng choán nước 21,500 tấn, Mistral có thể chở theo 450 lính thủy đánh bộ, khoảng 17 máy bay trực thăng, gần 100 xe cơ giới hoặc 60 xe bọc thép. Nó có một bệnh viện với 69 giường. Con tàu có mức độ tự động hóa cao, với thủy thủ đoàn chỉ gồm 180 người. Tàu lớp San Antonio của Mỹ, có chức năng gần giống Mistral, lượng choán nước 25,000 tấn có thủy thủ đoàn gần 400 người. Vũ khí trên tàu chủ yếu để phòng vệ, gồm 2 giàn phóng tên lửa phòng không tầm gần, 2 đại liên 30mm và 4 súng máy hạng nặng. Nếu không được tiếp tế trên biển, nó có thể hoạt động trong 45 ngày.
Những tàu hỗ trợ đổ bộ như chiếc Mistral hiện nay đang có nhu cầu khá cao trên thị trường quốc phòng. Chủ yếu là do tính linh hoạt và hữu dụng của nó trong nhiều loại hoạt động quân sự khác nhau. Chúng nó thể đóng vai trò quan trọng trong chiến tranh quy ước, bất quy ước, gìn giữ hòa bình, cứu trợ thiên tai…Chúng có thể là nơi xuất phát cho các chiến dịch đổ bộ, đồng thời là 1 tàu sân bay cho trực thăng, bệnh viện dã chiến nổi, sở chỉ huy trên biển…Nói chung, loại tàu này là 1 thành tố không thể thiếu đối với 1 lực lượng hải quân viễn dương. Và do đó mà việc quyết định mua Mistral đánh dấu 1 thay đổi lớn trong chiến lược của hải quân Nga.
Có thể nói rằng đế quốc Nga trước kia, LX sau này và bây giờ trở lại là nước Nga đều không có truyền thống mạnh về hải quân, hay ít nhất là không tương xứng với sức mạnh chung của đất nước. Lần cuối cùng người Nga tham gia một trận hải chiến lớn là đã cách đây hơn 1 thế kỷ, khi hạm đội Baltic giao chiến với hạm đội của cường quốc mới nổi Nhật Bản. Kết cục trận chiến là 1 thất bại thảm hại của người Nga.
Sau này ngay cả khi là siêu cường thứ 2 của thế giới, lực lượng hải quân LX vẫn chủ yếu mang tính phòng ngự chứ không phải là 1 lực lượng hải quân viễn chinh, có thể tác chiến và hỗ trợ các chiến dịch viễn chinh lâu dài ở một chiến trường cách xa chính quốc. Ngoại trừ đội tàu ngầm hạt nhân chiến lược, phần còn lại của hải quân LX được xây dựng với mục đích chính là phòng thủ thành công trước hải quân Mỹ trong trường hợp xảy ra chiến tranh. Trọng tâm khi đó là chống tàu ngầm, chủ yếu thông qua trực thăng, và phát triển những tên lửa diệt hạm lớn và tầm hoạt động xa để bù đắp cho việc không có tàu sân bay. Vấn đề phát triển khả năng viễn chinh rất ít được quan tâm, bản thân lực lượng lính thủy đánh bộ cũng có quy mô nhỏ, hoàn toàn phụ thuộc vào hải quân chứ không phải 1 quân chủng độc lập.
Song hiện nay, Nga đang cải tổ lại quân đội với học thuyết mới, với mục tiêu để không chỉ là 1 cường quốc lục địa. Theo đó, lục quân được cắt giảm, và tăng cường khả năng viễn chinh của quân đội. Những khu vực mà Nga đang muốn nhắm tới với tư cách như một cường quốc viễn dương là khu vực biển Đen, đông địa trung hải, bờ biển châu phi. Trên thực tế thì từ sau khi LX sụp đổ, tàu chiến Nga dành phần lớn thời gian neo ở cảng thay vì ra biển vì thiếu kinh phí, hầu như chỉ có lực lượng tàu ngầm chiến lược là còn có thể duy trì sự hoạt động thường xuyên, nhưng cũng ở quy mô giảm đi nhiều so với chiến tranh lạnh. Năm 2000, sau khi lên nắm quyền, một trong những việc làm đầu tiên của TT Putin là yêu cầu hải quân chuẩn bị cho đợt triển khai lớn đầu tiên từ sau 1991 đến khu vực địa trung hải. Không may là vụ tai nạn Kursk diễn ra ngay giữa quá trình chuẩn bị đó và hải quân Nga gần như phải dồn hết tâm trí cho thảm kịch này. Tiếp đến là vụ chiếc tuần dương hạm hạt nhân Pie Đại đế khi đang tập trận phải cấp tốc quay về cảng vì một hỏng hóc nào đó mà theo lời 1 đô đốc sau này thuật lại là đã có thể khiến nó nổ tung.
Những rắc rối khác lại xảy đến, lần này mang tên Bulava, rồi vụ tai nạn tàu ngầm mini, vụ tai nạn trong quá trình chạy thử của 1 chiếc Akula. Trên thực tế thì mặc dù gần 1 nửa ngân sách quốc phòng là dành cho hải quân thì đa số chúng vẫn được dùng cho lực lượng chiến lược (mang vũ khí hạt nhân) như việc phát triển loại tàu ngầm hạt nhân và tên lửa chiến lược mới. Hải quân Nga có vài lần triển khai tập trận ở vùng biển xa, nhưng cũng chỉ trong vài ngày, mang nhiều tính PR hơn là thực tế.
Cuộc chiến với Gruzia năm ngoái đã một lần nữa đặt ra yêu cầu hiện đại hóa lực lượng hải quân quy ước. Những chiếc Mistral mới cũng được dự đoán là nhằm chủ yếu triển khai ở khu vực biễn đen, là nơi sát sườn với nước Nga. Việc phát triển khả năng đột kích từ biển vào là rất quan trọng nếu như một cuộc chiến tương tự như cuộc chiến của Gruzia lại xảy ra, một phần vì địa hình ở khu vực đó rất hiểm trở.
Tuy nhiên, khi đứng trước yêu cầu đó, người Nga phải đối diện với 1 vấn đề nan giải. Đó là tình trạng cực kỳ bi đát của ngành công nghiệp đóng tàu hiện nay. Một thời gian dài hầu như không có việc gì để làm đã khiến cho ngành này chảy máu chất xám nghiêm trọng, công nghệ, phương pháp quản lý lạc hậu, không được cập nhật. Chưa kể là sau khi LX sụp đổ, Nga mất nhiều nhà máy ở các nước nay đã trở thành độc lập, chủ yếu là Ukraina, họ phải xây dựng lại những cơ sở tương tự với chi phí cao. Đó là lí do vì sao mà chiếc đầu tiên trong lớp tàu ngầm mới Borei có giá tới 2 tỷ dollar, tương đương với đơn giá của Mỹ, một điều hiếm khi xảy ra. Biểu hiện rõ ràng nhất của tình trạng bi đát này có lẽ không gì khác vụ scandal liên quan đến hợp đồng đại tu và bán lại tàu sân bay cho Ấn độ. Khi giám đốc một nhà máy đóng tàu tuyên bố rằng nhờ vào một hợp đồng mua tàu của Việt Nam mà công nhân nhà máy có việc làm thì đó không hẳn chỉ là những lời lẽ ngoại giao.
Trong tình trạng đó, người Nga không còn cách nào khác là phải đi mua lại của phương tây. Thật ra thì việc Nga, LX trước kia sử dụng công nghệ phương tây không phải là điều gì quá mới mẻ. Không chỉ dưới thời Sa hoàng, mà thậm chí là trong thời kì Stalin nắm quyền, đặc biệt là trong những năm 1930, Nga là 1 khách hàng thường xuyên của các nhà sản xuất vũ khí phương tây. Sau chiến tranh thế giới thứ 2 và trong thời kì chiến tranh lạnh, việc mua bán giảm đi nhiều, nhưng không phải là không có. Ví dụ như chính Pháp cũng đã cung cấp các thiết bị cảm biến nhiệt dùng trên những thế hệ tăng mới nhất của Nga. Ngoài ra, vũ khí Nga khi xuất khẩu, đặc biệt là máy bay, luôn có các tùy chọn (options) cho khách hàng để sử dụng các linh kiện, phụ kiện phương tây, đặc biệt là các thiết bị điện tử, thay cho thiết bị gốc của Nga. Tuy vậy, một hợp đồng lớn với cả một hệ thống vũ khí như vậy (1 con tàu hơn 2 vạn tấn) là chưa từng có tiền lệ, và rõ ràng thu hút rất nhiều sự chú ý. Nó chứng tỏ quyết tâm hiện đại hóa rất mạnh của quân đội Nga khi vượt qua vấn đề tự tôn của mình.
Thật ra nếu theo đúng như dự kiến thì người Nga cũng sẽ có rất nhiều lợi ích từ hợp đồng này. Vì theo đó những chiếc Mistral tiếp theo sẽ được cung cấp bản quyền để chế tạo ngay tại Nga. Đó sẽ là một cú hích rất lớn cho ngành đóng tàu Nga. Trong nhiều thập niên qua, chưa từng có con tàu nào lớn như vậy được chế tạo tại 1 nơi bên ngoài Mỹ hay châu Âu. Nga có thể tận dụng kinh nghiệm, công nghệ, cách quản lý mới nhất từ người Pháp.
Tuy vậy, đó vẫn ở thì tương lai khá xa, còn hiện tại, nó cho thấy một lần nữa thực trạng không lấy gì làm sáng sủa của ngành đóng tàu quốc phòng Nga, và liệu rằng việc phát triển hải quân dựa hoàn toàn vào các sản phẩm từ nền đóng tàu đó liệu có phải là 1 giải pháp tốt?
Trận chiến trên eo biển Tsushima
Trận chiến Tsushima diễn ra ngày 27-28/5/1905 giữa Hạm đội Baltic của Nga dưới quyền đô đốc Zinovi Rozhdestvensky và hạm đội Nhật dưới quyền Đô đốc Togo Heihachiro trên eo biển Triều Tiên. Nó đánh dấu một bước ngoặt về sự thay đổi quyền lực ở khu vực Thái Bình Dương đầu thế kỷ 20.
Căn nguyên sâu xa
Chiến tranh Nga-Nhật nổ ra như là kết quả của sự tranh giành phạm vi ảnh hưởng từ đống tro tàn của đế chế Trung Hoa giữa một cường quốc cũ (Nga) và cường quốc mới (Nhật). Trong cuộc chiến Trung-Nhật (1895-1896) mà chiến thắng thuộc về quân đội hiện đại hơn của Nhật, đã tạo cho đế quốc mặt trời mọc này một chỗ đứng trong châu Á đại lục, với cảng chiến lược Arthur tại Mãn Châu, cùng với Đài loan và một khoản tiền bồi thường lớn.
Nước Nga, sử dụng sức mạnh ngoại giao của mình giữa các cường quốc phương Tây, đã buộc Trung quốc ký một hợp đồng cho thuê, đưa cảng Arthur lại cho Nga. Phong trào Nghĩa hoà Đoàn nổ ra năm 1900 đã tạo điều kiện cho Nga để lại một đơn vị gìn giữ hoà bình ở TQ, và nước Nga đã sử dụng lực lượng đó để chiếm và củng cố cảng Arthur. Căng thẳng vẫn ở mức cao vào năm 1901 mặc dù quá trình đàm phán vẫn tiếp tục, Nhật Bản sắp xếp một hiệp ước với Anh theo đó bảo đảm sự trợ giúp của Anh nếu như có một cường quốc nào khác ngoài Nga liên quan đến vụ việc. Bộ Hải quân Nga đã đánh giá thấp một cách nghiêm trọng quyết tâm của người Nhật và khả năng tiến hành chiến tranh hiện đại của họ. Nhưng thật sự thì con đường dẫn đến chiến thắng của người Nhật đã bắt đầu từ rất lâu trước đó, khi mà họ mở cửa đối với phương Tây.
Phát triển Hải quân
Trong thế kỷ 16, tướng quân mạc phủ Tokugawa, lãnh chúa phong kiến của Nhật, đã tách rời nước Nhật khỏi phần còn lại của thế giới. Trong nhiều thế kỷ, kỹ thuật quân sự tiên tiến nhất ở đây là súng hoả mai. Cùng với sự tiếp xúc với phương Tây, sau khi hạm đội của đô đốc Perry (Mỹ) tới vịnh Tokyo, nước Nhật nhận ra rằng họ phải hiện đại hoá (không như TQ). Đến năm 1867, họ mua một thiết giáp của phe ly khai trong nội chiến Mỹ, chiếc CSS Stonewall, và bắt đầu xây dựng hải quân hiện đại. Năm 1877 đánh dấu sự thất bại của những samurai cũ trong nội chiến. Một triều đại mới, gọi là Meiji (Minh Trị), nắm quyền và ngay lập tức tái xây dựng nền kinh tế Nhật bằng cách cùng lúc công nghiệp hoá và quân sự hoá, với những thành công vang dội. Từ 1894 đến 1905, chi tiêu cho quốc phòng đạt đến 40% ngân sách. Nếu như năm 1880, tổng trọng tải hạm đội của Nhật chỉ là 15000 tấn thì đến năm 1905, con số này là 252000 tấn, cùng một hạm đội đầy kiêu hãnh với 31 tuần dương hạm và thiết giáp hạm hiện đại.
Kỹ năng pháo binh và vận động cũng được tập luyện rất thường xuyên như thể họ đang chiến đấu thật. Các pháo thủ tập bắn với đạn thật, các chiến hạm tập di chuyển vận động với vận tốc như trong chiến đấu mà kết quả có thể khiến con tàu bị hỏng, thậm chí mất tàu. Các sĩ quan và thủy thủ luôn được đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu ở mức cao nhất, không có bất cứ sự kém cỏi nào được chấp nhận. Việc giáng chức, hay đuổi khỏi quân đội rất thường xuyên xảy ra, từ các sĩ quan cao cấp cho tới những lính mới.
Chú gấu già nua
Hải quân Nga, hoàn toàn trái ngược, đang ở trong tình trạng suy tàn. Mặc dù nhiều thủy thủ Nga rất có năng lực, Bộ hải quân lại toàn những kẻ thủ cựu, và ngân sách dùng để duy trì hạm đội Nga lại đặc biệt nhỏ. Tuy vậy, nước Nga, vì sức mạnh trên bộ, vẫn được các nước phương Tây vị nể. Nhưng ngày 10/1/1904, nước Nhật đã làm cả thế giới ngạc nhiên khi tuyên chiến với Nga và tấn công cảng Arthur từ biển. Hải quân Nhật nhanh chóng chiếm ưu thế và tiêu diệt hạm đội Thái Bình Dương của Nga trong trận chiến Shantung ngày 10/8/1904. Các chiến dịch trên bộ cũng diễn ra quyết liệt mà đỉnh cao là trận chiến Mukden (hay Shenyang) từ 19/2/-10/3/1905 với sự tham gia của 330.000 quân Nga và 270.000 quân Nhật, được nhiều nhà sử học coi là trận chiến “hiện đại” đầu tiên trong lịch sử. Chiến thắng cuối cùng thuộc về người Nhật.
Yêu cầu cần phải tái thiết lập lại quyền lực trên bộ và trên biển đã dẫn tới việc Hạm đội Baltic được lệnh lên đường sang châu Á ngày 15/10/1904. Hạm đội khi đó được đổi tên là Hải đội Thái Bình Dương số 2. Hạm đội được đặt dưới sự chỉ huy của đô đốc Zinovy Petrvich Rozhestvensky, được tăng thêm bởi một số tuần dương hạm cũ kiểu những năm 1880 dưới quyền đô đốc Nebagatov cùng một số tàu vận tải. Rozhestvensky đã chỉ huy hạm đội của mình thực hiện một kỳ công là đi qua một quãng đường dài hơn 18000 hải lý (hơn 33.300 km) và đến châu Á nhiều tháng sau đó (trong số những nơi mà hạm đội này ghé qua có cảng Cam Ranh ở Việt nam). Đáng tiếc là thất bại thảm hại của hạm đội Nga sau đó đã làm lu mờ kỳ tích trên. Mục tiêu của hạm đội là đến được Vladivostok, cảng duy nhất của Nga trong khu vực. Đô đốc Togo biết điều đó, và ông ra lệnh cho tàu của mình tuần tra trên 3 tuyến đường mà hạm đội Nga có thể đi qua.
Diễn biến trận chiến
Trước khi bước vào cuộc chiến, người Nhật đang có những lợi thế mang tính quyết định: chiến trường gần quê nhà, một lực lượng gọn nhẹ hơn gồm toàn những chiến hạm kiểu mới và đồng bộ về tốc độ và hoả lực, thủy thủ được huấn luyện chu đáo và đang có nhuệ khí rất cao, việc lên kế hoạch và tập luyện kỹ lưỡng cho cả mục tiêu chiến lược và chiến thuật.
Ngày 27/5/1905, đô đốc Togo nói với toàn hạm đội “Vận mệnh của đế chế chúng ta phụ thuộc vào chỉ một trận chiến này, mọi người hãy chiến đấu với tất cả khả năng của mình”.
Hạm đội Nga bị phát hiện khi một đội tuần dương hạm của Nhật tìm ra 2 tàu bệnh viện của họ trong một khu vực đầy sương mù ở eo Tsushima tối ngày 26/5/1905. Chiều ngày 27/5, hai hạm đội giáp mặt nhau. Hạm đội Nga xếp thành đội hình hàng dọc từ Nam-Tây Nam sang Bắc-Đông Bắc, còn hạm đội Nhật là từ Tây sang Đông Bắc. Hạm đội Nga có 45 chiếc, gồm 12 thiết giáp hạm (tàu chủ lực), 8 tuần dương hạm, các khu trục hạm và tàu hỗ trợ khác. Phía Nhật có 4 thiết giáp hạm và một số tuần dương hạm, khu trục hạm. Đô đốc Togo có một quyết định táo bạo cho ra lệnh cho hạm đội của mình di chuyển chặn đầu hạm đội Nga và tập trung hoả lực vào chiếc kỳ hạm của hạm đội Baltic, chiếc Knyaz Suvorov, với đô đốc Rozhestvensky trên boong. Cách vận động táo bạo này làm hạm đội Nga bất ngờ, và chỉ có thể được thực hiện nhờ vào lợi thế tốc độ cũng như thủy thủ đoàn thiện nghệ của hạm đội Nhật.
Kỳ hạm Knyaz Suvorov khai hoả trước tiên, ba phút sau, chiếc kỳ hạm của đô đốc Togo, chiếc Mikasa, đáp trả. Đội hình hai hạm đội giữ một khoảng cách ổn định khoảng 6200m và xối hoả lực vào nhau. Nhịp bắn của quân Nhật rất ấn tượng, ước tính khoảng hơn 2000 phát đạn hạng nặng trong 1 giờ. Hơn nữa, người Nhật sử dụng một loại chất nổ có công thức mới trong đạn của mình, bắn vào những cấu trúc phía trên của tàu Nga và làm bùng lên những đám cháy dữ dội trên bất cứ con tàu nào bị bắn trúng. Mức độ chính xác của hoả lực Nhật làm người Nga phải sững sờ. Một sĩ quan Nga, thuyền trưởng Semenoff, đã viết “Tôi chưa bao giờ chứng kiến hoả lực nào như thế trước đây, tôi thậm chí không bao giờ dám tưởng tượng ra. Đạn dường như đang được rót xuống chúng tôi liên tục, cái này tiếp nối cái kia”. Thêm nữa, những chiến hạm của Nhật có thể đạt tốc độ 16 hải lý/h, trong khi của hạm đội Nga chỉ là 8 hải lý/h, chủ yếu vì phải chờ những chiếc tàu vận tải chậm chạp. Không những thế, người Nhật còn sử dụng một loại vũ khí mới là ngư lôi. Đã có lúc trong trận chiến, 30 khu trục hạm Nhật đồng loạt phóng ra 74 quả ngư lôi, đánh chìm ngay lập tức thiết giáp hạm Sisoy Veliky và 2 tuần dương hạm khác.
Trở lại với diễn biến của trận chiến, trong 40 phút đầu tiên, người Nhật xối mưa đạn xuống 2 thiết giáp hạm Nga là chiếc Knyaz Suvorov (tàu chỉ huy) và Oslyabya. Chiếc Oslyabya bị đánh đắm cùng với thuyền trưởng Vladimir Ber cùng phần lớn thủ thủ đoàn. Đô đốc Rozhestvensky bị thương nặng ở đầu, còn chiếc kỳ hạm của ông cũng bị hư hại nặng, hầu như không thể chỉ huy hạm đội được nữa. Chỉ huy 2 thiết giáp hạm Hoàng đế Alexander III và Borodino, thuyền trưởng Bukhvostov và Serebrenikov, cố gắng trong vô vọng để che chắn cho chiếc kỳ hạm và đưa hạm đội trở lại tuyến đường đến Vladivostok. Chiếc Borodino dẫn những thiết giáp hạm quay trở lại đội hình hàng dọc chính, nơi những tuần dương hạm đang chống cự để bảo vệ những chiếc tàu vận tải.
Tối hôm đó, từ trên boong chiếc Hoàng đế Nicholas I, chuẩn đô đốc Nebogatov tiếp nhận quyền chỉ huy hạm đội. Togo ra lệnh tạm ngừng bắn và cho những khu trục hạm áp sát và tấn công ở khoảng cách gần. 30 khu trục hạm Nhật phóng ra 74 quả ngư lôi Whitehead và đã đánh chìm thiết giáp hạm Sysoy Veliky cùng với tuần dương hạm Đô đốc Nakhimov và Vladimir Monomakh.
Sang ngày hôm sau, 5 chiếc thiết giáp hạm dưới quyền Nebogatov buộc phải đầu hàng. Chuẩn đô đốc Enkwist cùng 3 tuần dương hạm Oleg, Aurora, Zhemchug chạy về được đến căn cứ hải quân Mỹ ở Manila và bị giam giữ ở đó. Chỉ có khoảng 3 chiến hạm bị hư hỏng nặng của Nga, 1 tuần dương hạm hạng nhẹ và 2 khu trục hạm, là tới được Vladivostok. Đô đốc Rozhestvensky và bộ tham mưu được chuyển từ chiếc Buyny, bị hỏng động cơ, sang chiếc Bedovy, và sau đó bị quân Nhật bắt làm tù binh.
Nói chung, một số chiến hạm Nga đã chiến đấu rất anh dũng, đôi lúc trước nhiều tàu địch. Nhưng trước một đối phương hơn hẳn về mọi mặt thì tinh thần thôi là chưa đủ, chưa kể là tinh thần chiến đấu của toàn hạm đội Nhật cũng rất cao. Tổng kết cuộc chiến đã phản ánh chiến thắng vang dội cho phía Nhật. Hạm đội Nga mất phần lớn số tàu chiến, 4380 người chết, 5917 bị thương, 4000 bị bắt làm tù binh, trong đó có 3 đô đốc. Hạm đội Thái Bình Dương, Baltic, và hạm đội dự bị của họ hầu như không còn tồn tại. Phía Nhật mất 117 người, 583 bị thương, mất 3 tàu phóng lôi.
Ảnh hưởng của trận Tsushima
“Người Nga không quá tệ như cái cách mà họ bị đánh bại, và họ bị thảm bại vì họ đã thờ ơ và không bị đẩy vào thế đường cùng như ở Crimea hay như ở cuộc kháng chiến chống Napoleon, trong khi mỗi binh sĩ và thủy thủ Nhật tin rằng, mà thật sự nó đúng như vậy, rằng vận mệnh dân tộc họ đang lâm nguy và mỗi cố gắng của từng cá nhân có thể quyết định đại cục” (theo tờ New York Sun).
TT Roosevelt đã nhận ra sự ra đời của một con hổ mới của phương Đông. Ông viết trong một bức thư cá nhân năm 1906: “Trong nhiều năm, người Anh, người Mỹ, người Đức, những người xem nhau như kẻ thù trong nền ngoại thương ở Thái Bình Dương, sẽ phải dè chứng Nhật Bản hơn bất cứ quốc gia nào khác trong quá khứ … Nếu chúng ta cố đối xử với họ như cách ta đối xử với người TQ, và cùng lúc chúng ta không thể giữ cho lực lượng hải quân ở mức cao nhất về trình độ và quy mô, thì chẳng khác nào chúng ta đã tự rước hoạ vào thân”.
Về phản ứng của công chúng Nhật trước hiệp định Portsmouth thì nói chung họ coi đó là một sự phản bội. Lời giáo huấn về fukoken kyohei ( một đất nước giàu có với một quân đội mạnh) và cơ sở cho những suy nghĩ của họ. Họ cảm thấy hiệp ước đã cướp đi những lợi ích chính đáng của họ, nước Nhật đã bị o ép. Và họ cho rằng chính quyền dân sự phải chịu trách nhiệm chính, còn giới quân sự là những anh hùng. Đó là nhân tố dẫn đến việc chính quyền Meiji cuối cùng bị phế truất và một chế độ độc tài quân sự được thiết lập và đã dẫn nước Nhật vào Thế chiến thứ hai.
Nước Nhật giờ đây đã có ưu thế trên biển để hỗ trợ cho những bước đi của nó ở Mãn châu, Triều tiên và nhiều nơi khác. Trong khi đó, trong hơn 3 thập niên tiếp theo, những nước phương Tây phải đối phó với chiến tranh thế giới thứ nhất, cách mạng Nga, sự tái sinh của nước Đức quốc xã, và dần rời xa khu vực châu Á. Còn Yamamoto thì lên chỉ huy hạm đội Nhật, và những bài học từ Tsushima, cảng Arthur đã trở thành triết lý quân sự của ông. Những nền tảng quân sự, chính trị, kinh tế cho một trận chiến mới ở Thái Bình Dương đã được thiết lập mà những diễn viên chính trong đó là nước Nhật và nước Mỹ.
30.8.09
Hải tặc nhắm bắn trực thăng Mỹ
27.8.09
Mỹ - Công nghệ trong Transformer (P.3)
Lực lượng hỗ trợ cho nhóm của thiếu tá Lennox ở Ai cập được đổ bộ vào, sử dụng tàu đệm hơi LCAC. So với những tàu đổ bộ cổ điển, như loại được dùng ở Normandy, tàu đệm hơi là 1 bước tiến lớn, ko chỉ về tốc độ, sức tải mà quan trọng nhất là sự linh hoạt. Tàu đổ bộ loại cũ chỉ có thể dùng được cho chưa tới 10% chiều dài bờ biển trên thế giới, với tàu đệm hơi, con số này là hơn 70%, nhờ đó mà người ta có nhiều lựa chọn hơn khi lên kế hoạch đổ bộ. LCAC không phải được thiết kế độc lập như một số loại tương tự, ví dụ như Zurb của Nga, vốn có kích thước lớn hơn. Nó được thiết kế để có thể được chứa bên trong các tàu hỗ trợ đổ bộ như Wasp hay San Antonio, và di chuyển binh lính và thiết bị từ tàu mẹ vào bờ biển. Tốc độ tối đa trên 40 hải lý/h và tầm hoạt động trên 200 hải lý. Sức tải tối đa là 75 tấn. Trong phim chỉ có 2 chiếc xuất hiện, và chỉ với 2 chiếc này thì có thể đổ bộ 1 lực lượng hùng hậu như trong phim, khi mà chỉ riêng 1 chiếc xe tăng Abram đã nặng tới 70 tấn.
Jetfire là một trong những nhân vật khác đặc biệt của bộ phim, là một Decepticon nhưng đã chuyển sang phe Autobot. Jetfire tồn tại dưới lốt của 1 chiếc SR-71 Blackbird, một trong những huyền thoại của công nghệ hàng không quân sự. Cho tới nay, nó vẫn là chiếc máy bay nhanh nhất từng trong biên chế chính thức của mọi lực lượng không quân trên thế giới. Những mẫu máy bay nhanh hơn nó đều chỉ ở mức mẫu thử nghiệm. Tiền thân của SR-71 là chiếc A-12, có hình dạng bên ngoài gần giống SR-71. A-12 được đặt hàng để thay thế cho U-2 sau khi chiếc này không còn miễn nhiễm với hệ thống phòng không của LX nữa. Điều đặc biệt nhất về chiếc A-12 có lẽ là sự bí mật tuyệt đối của dự án. Thậm chí ngay cả không lực Mỹ cũng không biết đến sự tồn tại của nó (vì dự án là của CIA chứ không phải của quân đội). Chính vì vậy mà khi những báo cáo từ các máy bay dân sự tình cờ nhìn thấy những 'vật thể bay không xác định' ngay giữa nước Mỹ xuất hiện ngày một nhiều thì có nhiều sĩ quan cao cấp trong không lực Mỹ lo ngại rằng đó có thể là 1 máy bay do thám của LX!
SR-71 được thiết kế như một máy bay do thám chiến lược siêu thanh, với đội bay 2 người. "Vũ khí" chính của nó để vượt qua các hàng rào phòng không tân tiến nhất là tốc độ và trần bay lớn của mình. Các thông số chính: trọng lượng tối đa 77 tấn, tốc độ tối đa 3530km/h, tương đương Mach 3.3 ở độ cao 24km (Mach thay đổi theo độ cao). Trần bay 26km, tầm bay tối đa 4800km, và nó có thể được tiếp nhiên liệu trên không. Không chỉ giữ kỷ lục về tốc độ, SR-71 cũng là máy bay có trần bay lớn nhất được sản xuất hàng loạt và chính thức nằm trong biên chế.
Phần thân và vỏ máy bay làm chủ yếu từ titan và hợp kim titan để chống lại nhiệt độ sinh ra do ma sát với không khí. Nó có khả năng do thám 100,000 dặm vuông trong 1 giờ. Các cảm biến nó có thể mang theo gồm radar ảnh ASARS-1 gắn ở mũi máy bay, có thể thay thế bằng cảm biến quang học góc rộng Litton Itek. Dữ liệu từ ASARS có thể được truyền về trạm mặt đất dể xử lý với tốc độ 274Mbs trong khoảng cách 300 dặm. Nếu ngoài tầm truyền dữ liệu, dữ liệu sẽ được lưu lại trên máy bay. Ngoài ra, 2 bên hông máy bay còn có 2 camera chụp dùng để chụp điểm mục tiêu.
Động cơ J-58 của nó là động cơ phản lực quân sự duy nhất cho tới nay có thể hoạt động liên tục ở chế độ đốt hậu, và ngược với các động cơ phản lực khác, ở tốc độ càng cao thì hiệu suất động cơ lại càng tăng. Điều này có được nhờ thiết kế đặc biệt của động cơ, lai giữa động cơ phản lực thông thường và động cơ ramjet. Nguyên tắc chung của động cơ phản lực là không khí được hút vào trong động cơ, nén lại và (do đó) nóng lên, được đẩy vào buồng đốt nơi nó được trộn với nhiên liệu vào thành hỗn hợp nổ. Sau khi được kích nổ, thể tích và nhiệt độ của hỗn hợp tăng đột ngột và tạo thành luồng phản lực thoát ra ngoài, tuy nhiên trước đó nó sẽ đi qua 1 turbin nữa, nơi mà 1 phần năng lượng được giữ lại để làm quay bộ turbin nén khí ở phần trước của động cơ. Với những động cơ phản lực quân sự thì trước khi thoát ra ngoài, luồng khí phản lực sẽ được trộn với nhiên liệu và đốt một lần nữa (đốt hậu) cho phép máy bay đạt tốc độ siêu âm. Tuy vậy quá trình này rất tốn nhiên liệu và bản thân động cơ cũng chỉ chịu được trong 1 thời gian ngắn trước khi tan chảy. Với động cơ ramjet, không khí được nén lại không phải bằng các cánh quạt và hoàn toàn bằng tốc độ của luồng khí vào kết hợp với hình dạng của cửa hút khí. Do đó nó chỉ thích hợp ổ tốc độ rất cao.
Điểm đặc biệt của J-58 là nó có 6 ống dẫn khí lớn bao bọc quanh lõi động cơ phản lực. Cơ chế hoạt động của nó như sau. Dòng khí vào được nén sơ cấp nhờ vào 2 đầu nén khí có hình dạng chóp nón và chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy ở đầu 2 động cơ của Jetfire. Sau đó không khí được tách ra nhờ vào các van biến thiên. Một phần đi qua các tầng chong chóng nén, như với động cơ thường. Phần còn lại đi qua 6 ống khí đi thẳng đến tầng đốt hậu, giống như một động cơ ramjet. Tốc độ càng cao thì máy bay càng phụ thuộc nhiều vào luồng khí đi thẳng qua 6 ống dẫn. Lí do là vì khi đó, nhiệt độ tạo ra bởi tầng nén đầu tiên là đã đủ mà không cần phải đi qua các các tầng cách quạt nén khí nữa. (Nhiệt độ dòng khí trước khi vào buồng đốt sẽ quyết định hiệu suất mà động cơ có thể lấy được từ nhiên liệu, nhiệt độ càng cao thì càng hiệu quả, tuy nhiên phải tính đến giới hạn chịu đựng của vật liệu).
Do được thiết kế tối ưu cho mức vận tốc cực cao (Mach 3) nên SR-71 hoạt động rất khó khăn ở mức vận tốc thấp. Thậm chí để vượt bức tường âm thanh, nó phải thực hiện động tác bổ nhào. Nhưng sau khi đã đạt tốc độ siêu âm rồi thì không gì có thể cản được nó lao thẳng đến mốc Mach 3 và duy trì ở đó.
Với tốc độ và độ cao như thế, có thể nói SR-71 là máy bay 'bất khả xâm phạm'. Trong suốt thời gian hoạt động của mình, đối phương đã 4000 lần cố gắng ngăn chặn Blackbird, bằng máy bay hoặc tên lửa, nhưng không 1 lần thành công. Đơn giản là ví nó bay quá cao và quá nhanh.
Blackbird được thiết kế bởi Trung tâm Chồn hôi, một trung tâm thiết kế huyền thoại của Lockheed Martin, nơi ra đời của U-2, A-12, F-117A, F-22, F-35. Blackbird có 1 vị trí đặc biệt trong lịch sử công nghệ hàng không không chỉ vì những đặc tính có 1 không 2 của mình mà còn vì nó đánh dấu 1 bước chuyển lớn trong công nghệ đỉnh cao sử dụng trong các 'siêu máy bay'. Trước kia, mục tiêu của các kỹ sư là nhanh hơn, cao hơn, xa hơn. Các máy bay như U-2, SR-71 được thiết kế để vượt qua hàng rào phòng không bằng cách bay rất nhanh, rất cao. Tuy nhiên, sau Blackbird, ưu tiên được chuyển sang công nghệ tàng hình, với F-117A hay B-2. Đối với các chiến đấu cơ thông thường khác, ưu tiên cũng chuyển từ vấn đề sức mạnh của động cơ sang các thiết bị điện tử, đặc biệt là radar. Thực tế thì thế hệ 4 trở đi thì các chiến đấu cơ đều có giới hạn tốc độ tối đa từ Mach 2 - 2.5.
Bản thân Blackbird cũng là máy bay đầu tiên có tích hợp những công nghệ nhằm làm giảm bề mặt phản xạ radar, tuy rằng nó hoàn toàn không phải là 1 máy bay tàng hình. Việc ra đời của vệ tinh do thám đã khiến cho vai trò của những máy bay do thám chiến lược như U-2, SR-71 suy giảm nhiều. Khi vệ tinh Corona, vệ tinh do thám đầu tiên của thế giới, chuyển dữ liệu về (khi đó bằng cách thả cuộn phim trở lại bầu khí quyển và máy bay sẽ phải bắt lấy trước khi nó rơi xuống biển), lượng hình ảnh trong 1 lần còn lớn hơn toàn bộ số hình ảnh mà tất cả các chuyến bay của U-2 thu được. Dù sao thì với những thành tích, kỷ lục mà SR-71 nắm giữ cũng như vai trò bản lề trong công nghệ, nó xứng đáng là 1 tượng đài.
Một trong những công nghệ tương lai xuất hiện trong Transformer là pháo điện từ mà một khu trục hạm dùng để tiêu diệt một Decepticon trên đỉnh kim tự tháp. Hiển nhiên là một vũ khí như vậy không tồn tại trên thực tế, mặc dù hải quân Mỹ đã thử nghiệm thành công 1 nguyên mẫu pháo điện từ với sơ tốc đầu đạn Mach 7 (tương đương trong phim). Cùng với laser, pháo điện từ được xem là tương lai của vũ khí hải quân, được gọi chung là vũ khí năng lượng định hướng, thay cho các vũ khí sử dụng chất nổ thông thường như pháo, tên lửa. Tuy nhiên, một trở ngại lớn cho việc áp dụng trên thực tế là lượng điện năng khổng lồ mà những loại vũ khí này yêu cầu. Các loại chiến hạm hiện nay đều không được thiết kế để có thể một lượng điện năng lớn như vậy. Trong những năm qua, nhu cầu về năng lượng của các chiến hạm đã tăng khá nhiều và hầu như đã tới mức giới hạn. Nguồn gốc của nhu cầu tăng lên này là do sự phát triển của radar, đặc biệt là công nghệ radar quét điện tử. Radar mạnh hơn đồng nghĩa với cần nhiều năng lượng hơn. Ngoài ra, khi radar hiện đại hơn, nghĩa là ta thu được nhiều dữ liệu hơn, nhưng để chuyển dữ liệu từ radar thành thông tin có ích thì ta cũng cần các thiết bị xử lý mạnh tương ứng mới có thể tận dụng được sức mạnh của radar. Ví dụ như những máy tính mạnh hơn, cũng đồng nghĩa với nhiều điện năng tiêu thụ hơn. Do đó, để có thể có nguồn điện cần thiết cho các vũ khí năng lượng, cần có các thiết kế mới, tối ưu hóa năng lượng của tàu.
Một cách tiếp cận là hạt nhân hóa toàn bộ hạm đội. Một cách khác, như trong các thiết kế mới của hải quân Mỹ như khu trục hạm DDG-1000 Zumwalt, là chuyển toàn bộ năng lượng tàu có thể sản sinh ra sang dạng điện năng. Trước kia thì 1 phần lớn năng lượng của tàu sinh ra được chuyển thẳng từ động cơ (turbin phản lực) ra chân vịt dưới dạng năng lượng cơ. Theo các thiết kế mới thì toàn bộ năng lượng sản sinh ra sẽ dưới dạng điện năng và sẽ được phân phối tùy theo nhu cầu trong từng thời điểm.
Khi lực lượng NEST Team bị các Decepticon bao vây ở Ai cập, một trong những loại hỏa lực hỗ trợ mạnh nhất là họ có được là từ 1 chiếc B-1B Lancer thả hàng chục quả bom JDAM. Được thiết kế trong chiến tranh lạnh với vai trò chủ yếu là để phóng tên lửa hành trình mang đầu đạn hạt nhân, B-1B đã chứng tỏ vai trò trong các cuộc chiến quy ước tại Iraq cũng như tại Afghanistan. Chủ yếu nhờ vào sự hoàn thiện của công nghệ tìm mục tiêu và bom thông minh. Mặc dù không hiệu quả, về mặt chi phí, như B-52, B-1B có lợi thế về tốc độ, vì là một máy bay ném bom siêu âm. Do đó, nó có thể có mặt nhanh hơn khi lực lượng trên mặt đất cần hỗ trợ. Ngoài ra, sự xuất hiện của JDAM, bom thông minh dẫn đường bằng vệ tinh, cho phép B-1B có thể hỗ trợ bộ binh một cách hiệu quả và chính xác hơn. Trong quá khứ, khi lực lượng 2 bên giao chiến gần nhau như trong cuộc chiến ở Ai cập thì chắc chắn không ai dám cho máy bay ném bom hạng nặng 'rải thảm' như vậy cả.
Tuy vậy, bom thông minh không phải là vũ khí duy nhất mà B-1B có thể sử dụng. Tại Afghanistan, khi gặp sức kháng cự mạnh của Taliban, bộ binh Mỹ có thể yêu cầu B-1B thực hiện hoạt động 'biểu dương sức mạnh', khi đó nó sẽ bay sát mặt đất với tốc độ siêu âm. Tiếng gầm rít từ 4 động cơ phản lực đốt hậu cỡ lớn cùng với tiếng nổ khi vượt tường âm thanh tạo thành một 'trận bom âm thanh' có thể làm lung lay tinh thần của lực lượng Taliban gần đó. B-1B có thể thực hiện động tác này là vì nó được thiết kế để vượt qua hệ thống phòng không bằng cách bay rất nhanh ở độ cao thấp, bám sát địa hình.
Trên thực tế, đó chỉ là 1 trong rất nhiều lần mà lực lượng trên mặt đất của thiếu tá Lennox phải yêu cầu yểm trợ từ trên không. Trong phần 1 là khi bị bao vây ở Qatar, và tại Mission City, trong phần 2 là tại Ai cập. Trên thực tế, trong những chiến dịch đặc biệt, các lực lượng đặc nhiệm (như NEST Team trong phim) thường sẽ có 1 điều phối viên của không quân đi cùng. Những người này không chỉ đóng vai trò gọi máy bay và chỉ định mục tiêu và còn kiểm soát không lưu, phối hợp hoạt động các mọi máy bay gần đó. Và vì đi theo các đơn vị đặc nhiệm, những người này cũng cần có những tố chất đặc biệt và phải trải qua những đợt kiểm tra cực kỳ khắt khe.
Đầu tiên, những ứng viên trải qua 2 tuần tuyển chọn ban đầu. Sau đó là 15 tuần huấn luyện ở trường kiểm soát không lưu. Tiếp đó là 3 tuần huấn luyện nhảy dù. 3 tuần tiếp theo là về cách tồn tại trong tự nhiên. Cuối cùng là 13 tuần huấn luyện về điều khiển hỏa lực đường không. Nếu vượt qua tất cả, họ có thể cùng đi theo các đơn vị đặc nhiệm của quân đội Mỹ như Delta Force, Mũ nồi xanh, Biệt động, trừ lực lượng SEAL của hải quân. SEAL yêu cầu thêm 12 tháng rèn luyện thể lực. Bắt đầu là 5 tuần huấn luyện thế chất. Tiếp theo là 6 tuần học lặn, thêm 4 tuần rèn luyện nhảy dù. Tiếp đó là 12 tuần huấn luyện về kỹ năng cơ bản của SEAL và 8 tuần hoàn thiện các kỹ năng thực hiện nhiệm vụ.
(Còn tiếp - Phần cuối tập trung vào vũ khí cá nhân)